Tướng cảnh vệ Phan Văn Xoàn - Một cuộc đời một chân lý
Bài 2: Từ Mũi Cà Mau đến Chiến khu Việt Bắc
SGGP:: Cập nhật ngày 24/02/2007 lúc 16:11'(GMT+7)

Những ai đã từng sống qua thời kỳ lịch sử này mới cảm nhận hết cái khí thế hừng hực của ngọn lửa cách mạng trong toàn dân. Đó là tinh thần vùng lên của những cuộc đời bị dồn nén, chất chứa khao khát của một dân tộc.

  • Bước ngoặt cuộc đời 
Bảo vệ Bác Hồ về thăm Nam Định năm 1958

Năm 1946, tôi được bầu làm Bí thư chi bộ xã Tân Hưng. Từ sau khi Mặt trận Tân Hưng bị vỡ cho đến cuối năm 1946, tôi vừa phụ trách chi bộ Đảng Tân Hưng, lại vừa được Tỉnh ủy Bạc Liêu phân công cùng với một đồng chí nữa lo việc củng cố lại một số chi bộ và phong trào đoàn thể ở một số địa phương khác. Tình hình bấy giờ khá phức tạp. Đến tháng 6-1947, tôi trúng cử vào Ban Thường vụ Huyện ủy Cà Mau.

 Làm Thường vụ Huyện ủy Cà Mau một thời gian, tôi lại được Tỉnh ủy Bạc Liêu phân công kiêm nhiệm thêm nhiệm vụ Bí thư Ban cán sự Đảng thị xã Bạc Liêu. Sang đầu năm 1948, tỉnh ủy chủ trương chia huyện Cà Mau thành hai huyện Cà Mau và Ngọc Hiển, tôi được bổ nhiệm là Bí thư Huyện ủy Cà Mau và đắc cử tỉnh ủy viên Ban chấp hành.

Vào khoảng tháng 3-1950, Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu mở đại hội lần thứ ba để bầu Ban chấp hành mới nhưng khi đại hội sắp kết thúc, một bất ngờ lớn xảy đến với tôi. Tỉnh ủy Bạc Liêu nhận được chỉ thị của Trung ương chọn cử hai cán bộ ra Bắc để đi học Trường Chính trị Mác-Lênin Phương Đông ở Trung Quốc. Tại đại hội, tôi là một trong hai người được tỉnh ủy chọn đi. Đây quả là bất ngờ ngoài dự đoán. Tỉnh ủy cho phép tôi về thăm nhà và chuẩn bị cho chuyến đi. Đã dặn lòng là phải giữ vững lập trường nhưng khi đến ngày chia tay để tập trung lên khu ủy, trước tình thương yêu của mẹ, của những người thân và tạm biệt người yêu, tôi không khỏi mềm lòng.  

  • Đường đến chiến khu 

Rồi cái ngày thật sự chia tay cũng phải đến. Tôi không thể nào quên ngày ấy. Đó là ngày 23-9-1950. Điểm khởi hành là đầm Thị Tường, chúng tôi qua sông Đốc, sông Trèm Trẹm, kinh xáng Chắc Băng, qua Vĩnh Thuận, sông Cái Lớn, qua Rạch Giá, rồi vượt sông Hà Tiên, Giang Thành để tập trung tại đồi Đá Dựng, vùng biên giới giáp đất bạn Campuchia. Một lộ trình mất đến hai ngày đêm ròng rã.
 
Theo kế hoạch, từ Campuchia, chúng tôi đi bằng đường bộ sang biên giới Thái Lan. Đó là cuộc hành trình gian nan vất vả. Tôi còn nhớ, đêm đầu tiên chúng tôi xuất phát là đêm 25-9-1950. Suốt hai tháng ròng rã, cuối cùng chúng tôi cũng đến được bờ biển vịnh Thái Lan. Chúng tôi tiếp tục sống trong rừng để học tiếng Thái và chờ người liên lạc của Trung ương sang. Chúng tôi được tổ chức vượt biển bằng thuyền buồm qua đất Thái để đi Bangkok. Chúng tôi nghỉ ngơi ở Bangkok đúng một tháng hai mươi ngày thì lên đường. Từ đây chúng tôi đi bằng tàu hỏa lên Noong Khai, một tỉnh ở vùng Đông Bắc Thái.

Chúng tôi dừng lại ở Noong Khai độ khoảng 10 ngày, cộng với thời gian ở Bangkok, chúng tôi có khoảng hai tháng nghỉ ngơi trên đất Thái. Ngày lên đường, các đồng chí chuẩn bị cho chúng tôi chuyến vượt dòng Mekong thật là lý thú. Họ tổ chức đến hai thuyền, một thuyền dành cho tôi và một đồng chí nữa, thuyền kia đi ba người. Dòng Mekong, đoạn chảy qua Noong Khai thật mênh mông, hùng vĩ. Nước sông chảy xiết đến rợn người, nhưng nó đẹp lắm. Ngắm nhìn dòng nước ta có cảm giác nó uy linh, đầy ma lực.

 Cuối cùng, cũng kết thúc đêm “du ngoạn” trên dòng Mekong kỳ thú. 5g sáng, thuyền chúng tôi cặp sang bến nước bạn Lào. Đặt chân lên đất Lào. Nghĩa là chúng tôi đã chạm chân vào núi rừng Trường Sơn hùng vĩ. Cuộc hành trình trên dãy Trường Sơn đất Lào không mất nhiều thời gian như từ Campuchia qua Thái Lan nhưng sự gian truân thì dữ dội hơn nhiều. Rừng núi Trường Sơn thâm u, nặng nề chướng khí, hệ sinh thái ở đây thật khắc nghiệt vô cùng.

Trải qua mười sáu ngày ròng rã trong sự thách đố sinh mạng trên dãy Trường Sơn, cuối cùng chúng tôi cũng chiến thắng được thử thách để cùng với những người anh em của mình đặt chân lên đất nước thân yêu của Tổ quốc. Chúng tôi sung sướng đến trào cả nước mắt, khi bao gian khổ, lần đầu tiên sau khi rời biên giới Hà Tiên, chúng tôi mới đọc một cụm từ địa danh bằng tiếng việt: xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Cái địa danh lần đầu đặt chân lên đó nhưng nghe nó thân thương, ruột thịt đến lạ thường.
 
Tính ra, thời gian chúng tôi ở lại Nghệ An - Khu Bốn là khoảng hai tháng thì có liên lạc đến đưa chúng tôi lên chiến khu Việt Bắc. Theo lộ trình chúng tôi từ Nghệ An đi Thanh Hóa, đến Hòa Bình, qua sông Đà ở bến phà Hòa Bình rồi đi thẳng lên Phú Thọ, đến “An toàn khu” ở Tuyên Quang. Cuộc hành trình cuối này chúng tôi phải mất một tháng trời mới đến được Việt Bắc. Kết thúc sáu tháng đi đường, tất cả chúng tôi đều có mặt an toàn tại “An toàn khu” của Trung ương Đảng thuộc địa phận tỉnh Tuyên Quang. Đứng trước núi rừng Việt Bắc, lòng tôi thấy tràn đầy niềm tin, những liên tưởng về lịch sử dân tộc nước nhà qua nhiều thời đại khác nhau từ ngàn năm trước với những chiến thắng lẫy lừng của ông cha ta trước kẻ thù phương Bắc, tôi càng thấy cơ hội độc lập, tự do dân tộc đến gần hơn.
 
Sau một tuần lễ nghỉ ngơi, chúng tôi được Bác đến thăm. Cái nguyện vọng thiết tha và niềm mong đợi đến cháy lòng trong suốt cuộc hành trình của tôi bây giờ là hiện thực. Tôi nhìn Bác mà xúc động đến lặng người đi, không biết phải nói gì. Tôi không thể nào tả nổi tâm trạng tôi lúc ấy. Tâm trạng của đứa con miền Nam-đứa con từ miền đất Mũi Cà Mau xa xôi đã được gặp Bác Hồ!

Hồi ký Phan Văn Xoàn

 Đón đọc Bài 3: Trở thành cận vệ Bác Hồ


Tin, bài liên quan:
 - Bài 1 : Con đường tôi chọn!

In trang Gửi phản hồi Về đầu trang

CÁC TIN KHÁC >>
Ông thanh tra mê đấu quyền Anh  (24/02/2007,16:05)
Manchester United đến gần ngôi vô địch  (24/02/2007,16:02)
6 kỷ lục và những chuyện hậu trường  (24/02/2007,15:58)
Lật tẩy quan tham Nam Phi   (24/02/2007,15:31)
Tất cả chỉ để “hù dọa”?  (24/02/2007,15:22)
Mệt!  (24/02/2007,15:15)
Thiếu tôn trọng khách hàng   (24/02/2007,15:14)
Thưởng “nóng” 50 triệu đồng cho công nhân môi trường đô thị   (24/02/2007,15:11)
Hai vợ chồng, một cái chân  (24/02/2007,15:09)
Góc chợ sáng nay  (24/02/2007,15:06)