Kỷ niệm 65 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9

65 năm nhìn lại

65 năm nhìn lại

65 năm là một khoảng thời gian tuy không dài đối với lịch sử nhưng cũng gần như trọn vẹn cuộc đời của một con người. Những chàng trai trẻ của thế hệ Cách mạng Tháng Tám 1945 đến nay, ai còn sống, ít nhất cũng đã bước qua tuổi tám mươi. Thế giới đã bước vào một thế kỷ mới, thế kỷ 21 trải qua một thập kỷ với biết bao thay đổi. Một cái nhìn dù chỉ thoáng qua cũng cảm nhận được nhiều điều sâu sắc...

Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số bộ trưởng trong Chính phủ Cách mạng lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ảnh tư liệu

Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số bộ trưởng trong Chính phủ Cách mạng lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ảnh tư liệu

1. Khi Nguyễn Ái Quốc lần đầu tiên đặt chân đến nước Nga “thành trì của cách mạng thế giới”, Người mới có 4 tuổi Đảng kể từ khi tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Khi chọn con đường cộng sản, Người nói rằng, quyết định cho sự lựa chọn đó là vì đọc được ở Lênin sự ủng hộ đối với sự nghiệp giải phóng các thuộc địa, điều mà nhà cách mạng Việt Nam đã mất nhiều công sức tìm kiếm.

Khi đến nước Nga, người mà Nguyễn Ái Quốc đặt rất nhiều hy vọng, Lênin cũng vừa qua đời. Chỉ trong năm đó, Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu lý luận và có lẽ cả thực tiễn của nước Nga, nhà cách mạng Việt Nam trẻ tuổi ấy đã đi đến một nhận định mà chỉ có thời gian mới chứng thực được sự sáng suốt, còn vào thời điểm đó người ta mới nhìn thấy một sự dũng cảm vô song. Đó là: “Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước” và ở Việt Nam không hẳn là “đấu tranh giai cấp” mà chính là “đại đoàn kết dân tộc” thì sự nghiệp giải phóng mới có thể thắng lợi. Nhà cách mạng 34 tuổi của Việt Nam nhận định như vậy trên cơ sở nhận thức rằng mình có trách nhiệm phải bổ sung cho học thuyết của Mác thực tiễn của phương Đông và của chính đất nước mình.

Nhận định này được Nguyễn Ái Quốc thể hiện trong một luận văn viết năm 1924 dưới dạng một bản báo cáo về tình hình đất nước lúc này bị thực dân chia cắt làm ba: Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ. Cũng trong luận văn này, Nguyễn Ái Quốc còn tiên đoán về hình thái cuộc cách mạng sẽ diễn ra ở Việt Nam: “Cuộc khởi nghĩa phải được chuẩn bị trong quần chúng, nổ ra trong TP và theo kiểu các cuộc cách mạng ở châu Âu, chứ không phải nổ ra đột ngột ở biên giới Trung Quốc theo phương pháp của các nhà cách mạng trước đây”.

Nguyễn Ái Quốc đã kiên trì với nhận định đó, để đến khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 sắp bùng nổ, Người tìm mọi cách để nhanh chóng trở về Tổ quốc. Năm 1941, nhà cách mạng Việt Nam đưa ra Cương lĩnh của Mặt trận Việt Minh, cụ thể hóa rồi hiện thực hóa sự nghiệp “đại đoàn kết” để tạo nên sức mạnh giải phóng dân tộc. Đó là sức mạnh biết nắm lấy thời cơ để hành động đúng lúc với tinh thần “Dù có phải đốt cháy dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Và chỉ hơn hai thập kỷ sau những nhận định đưa ra ngay trong năm đầu tiên ở nước Nga, thực tiễn của cuộc Cách mạng Tháng Tám căn bản đã diễn ra đúng như hình thái mà Nguyễn Ái Quốc đã vạch ra như một lời tiên đoán. Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tại Hà Nội (19-8), Huế (23-8) và Sài Gòn (25-8) là những bằng chứng hùng hồn về hình thái quyết định thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.

Cho đến nay, có lẽ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” và “coi quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy” (cương lĩnh Mặt trận Việt Minh), cái chất liệu đúc nên chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do” sau những trải nghiệm của cuộc chiến đấu và chiến thắng “hai đế quốc to”, đến nay vẫn còn nguyên giá trị cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam ngay trong thời đại hội nhập toàn cầu này.

2. Công cuộc hội nhập với thế giới thực ra không phải chỉ là những gì diễn ra ở cuối thế kỷ 20 và đang diễn ra mạnh mẽ ở thế kỷ 21 này. Trên tiến trình vận động cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm kiếm nguồn sức mạnh từ những vận động đầy biến cố của thời đại. Từ những cố gắng gắn kết sự nghiệp giải phóng dân tộc của Việt Nam với phong trào cộng sản và công nhân thế giới cho đến cuộc đấu tranh cho sự tiến bộ của nhân loại trong cuộc chiến tranh chống phát xít hình thành cùng với hình thái của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Ngay vào thời gian cuối năm 1944, đầu 1945, Người đã theo dõi thời cuộc và biết chắc rằng chủ nghĩa phát xít sẽ thất bại. Không chấp nhận phương thức dựa vào sự trao trả độc lập của phát xít Nhật để chọn thời cơ giành độc lập như Chính phủ Trần Trọng Kim cũng như ở một số quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chọn con đường đứng vào hàng ngũ đồng minh, những lực lượng chiến đấu và chiến thắng chủ nghĩa phát xít một khi chiến tranh kết thúc. Điều đó tạo dựng chính danh và tư cách pháp nhân cho một chính thể ra đời trên đất nước Việt Nam độc lập.

Cho dù sự đồng minh với Mỹ diễn ra thật ngắn ngủi với một đơn vị nhỏ nhảy dù xuống chiến khu Tân Trào, thành lập một Đại đội Việt-Mỹ, tham gia bao vây quân Nhật tại Thái Nguyên khi Nhật hoàng đã tuyên bố đầu hàng và chờ quân đồng minh vào giải giáp, nhưng nó đã tạo một thế đứng đàng hoàng cho một nước Việt Nam độc lập ra đời.

Ngay lập tức, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thành quả của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đã mở rộng cánh cửa hội nhập với thế giới theo một nguyên lý được khẳng định từ rất sớm bằng thông điệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Liên hiệp quốc (1946) với một chính sách mà trải qua thử thách của 65 năm qua, nó được minh chứng như một đường lối nhất quán: Đối với Lào và Miên (Campuchia), Việt Nam tôn trọng nền độc lập của hai nước đó và bày tỏ lòng mong muốn hợp tác trên cơ sở bình đẳng tuyệt đối giữa các nước có chủ quyền. Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong các lĩnh vực: Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình; sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông và cho việc buôn bán, quá cảnh quốc tế; chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hiệp quốc; sẵn sàng ký kết với các lực lượng hải quân, lục quân trong khuôn khổ của Liên hiệp quốc những hiệp định an ninh đặc biệt và những hiệp ước liên quan đến việc sử dụng một vài căn cứ hải quân và không quân...

Trong cuộc đấu tranh vì những quyền thiêng liêng của mình, nhân dân Việt Nam có một niềm tin sâu sắc rằng họ cũng chiến đấu cho một sự nghiệp chung: đó là sự khai thác tốt đẹp những nguồn lợi kinh tế và một tổ chức có hiệu quả cho an ninh ở Viễn Đông.

Tất cả như một lời tiên tri. Khi Hồ Chí Minh đưa vào bản Tuyên ngôn Độc lập của mình hai đoạn trích từ “Tuyên ngôn Độc lập” Hoa Kỳ và “Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền” của Cách mạng Pháp, người đứng đầu Nhà nước Việt Nam muốn khẳng định rằng cuộc Cách mạng Giải phóng của dân tộc Việt Nam cũng đi tiếp xu thế tiến bộ của nhân loại bằng sự nghiệp giải phóng các nước thuộc địa khỏi chủ nghĩa thực dân. Lịch sử 65 năm qua cũng minh chứng rằng đó là một thực tiễn mà nhân loại đã trải qua.

3. Nguyễn Ái Quốc đã từng sống dưới chế độ Xô Viết, đã từng nếm trải những sóng gió của chính quyền Trung Hoa non trẻ gắn với những biến cố ở Quảng Châu Công xã và Đảng Cách mạng Việt Nam cũng đã chịu nhiều tổn thất sau Xô Viết Nghệ Tĩnh... Bởi vậy, sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn cho mình một mô hình nhà nước tiên tiến có năng lực hội nhập với thế giới nhưng lại phù hợp với thực tiễn phương Đông của đất nước mình.

Quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và tiêu đề “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” chắc chắn là một giá trị lâu dài cho sự phấn đấu không chỉ riêng với dân tộc Việt Nam. Cái nguyên lý ấy còn được Chủ tịch Hồ Chí Minh cụ thể hóa một cách sâu sắc hơn nữa khi xác tín rằng: “Chúng ta đã đấu tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ” (Phát biểu tại phiên họp đầu tiên của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc 10-1-1946).

Ngày nay, sau 65 năm phấn đấu, mục tiêu “Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh” suy cho cùng, cũng không đi ra ngoài cái mục tiêu mà 65 năm trước dân tộc chúng ta đã lựa chọn.

Tất cả cho thấy, tuy 65 năm đã qua nhưng ý nghĩa trọng đại của cuộc cách mạng và những vấn đề đặt ra của thực tiễn đời sống đất nước dù đã có rất nhiều thay đổi, rất nhiều thành tựu đáng tự hào, vẫn còn mang tính thời sự. Đó là gắn kết sự nhất quán của một mục tiêu cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 như một sự khởi động cho một định hướng lâu dài gắn với tiền đồ phát triển của dân tộc Việt Nam chúng ta.

Dương Trung Quốc

Tin cùng chuyên mục