TIẾN TỚI ĐẠI HỘI ĐẢNG TOÀN QUỐC LẦN THỨ XI
Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ IX (nhiệm kỳ 2010 - 2015)
Thứ hai, 23/08/2010, 23:38 (GMT+7)

5 năm qua, Đảng bộ và nhân dân thành phố tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VIII trong tình hình có những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, nhất là cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu tác động, ảnh hưởng lớn, gây nhiều khó khăn cho đất nước nói chung, thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Trong bối cảnh đó, phát huy truyền thống cách mạng kiên cường, phấn đấu bền bỉ, năng động, sáng tạo, Đảng bộ, chính quyền thành phố đã đề ra và thực hiện có hiệu quả nhiều chính sách, giải pháp phù hợp với tình hình thực tiễn để khắc phục khó khăn; cùng với sự nỗ lực cao của cả hệ thống chính trị và nhân dân thành phố đã phấn đấu hoàn thành cơ bản mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VIII, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng.

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trao Huân chương Sao Vàng cho Đảng bộ và nhân dân TPHCM nhân dịp kỷ niệm 35 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 - 30-4-2010). Ảnh: VIỆT DŨNG

PHẦN THỨ NHẤT
KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ LẦN THỨ VIII

I. VỀ THÀNH TỰU

1. Kinh tế trên địa bàn thành phố đạt tốc độ tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, các nguồn lực xã hội được phát huy, các ngành, lĩnh vực đều phát triển, góp phần cùng vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu

Trong 2 năm đầu nhiệm kỳ (2006 - 2007), kinh tế thành phố tăng trưởng vượt chỉ tiêu Nghị quyết(1) đề ra; từ cuối năm 2007, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, tốc độ tăng trưởng kinh tế thành phố giảm(2), ảnh hưởng tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm chỉ đạt 11%, thấp hơn chỉ tiêu đề ra, nhưng là mức tăng cao so với bối cảnh chung. Quy mô kinh tế thành phố đến năm 2010 bằng 1,7 lần năm 2005, GDP bình quân đầu người năm 2010 ước 2.800 USD, bằng 1,68 lần năm 2005 (1.660 USD).

Chương trình hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế bước đầu đạt kết quả tích cực, từng bước tạo chuyển biến về chất trong cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành có giá trị gia tăng và hàm lượng khoa học - công nghệ cao(3). Các ngành dịch vụ có tốc độ tăng trưởng 12%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế chung; trong đó, các ngành dịch vụ có lợi thế cạnh tranh, chất lượng cao, giá trị gia tăng cao như: tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, du lịch, bưu chính - viễn thông, vận tải - cảng - kho bãi, khoa học - công nghệ, giáo dục và y tế chất lượng cao tiếp tục phát triển mạnh; giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 2006 - 2010 bằng 1,85 lần giai đoạn 2001 - 2005; 4 ngành công nghiệp trọng yếu: cơ khí chế tạo, điện tử - công nghệ thông tin, hóa chất, chế biến tinh lương thực, thực phẩm chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong giá trị sản xuất công nghiệp(4).

Nông nghiệp chuyển dịch tích cực theo hướng nông nghiệp đô thị, sản xuất giống cây, giống con và các sản phẩm có chất lượng, hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng yêu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu. Doanh thu bình quân 1 ha đất nông nghiệp năm 2009 đạt 138,5 triệu đồng/năm, bằng 2,2 lần năm 2005.

Nền kinh tế nhiều thành phần ngày càng khẳng định sức sống mạnh mẽ. Qua sắp xếp, đổi mới, tuy số lượng và tỷ trọng đóng góp của các doanh nghiệp nhà nước trong cơ cấu kinh tế thành phố giảm, nhưng quy mô và hiệu quả tăng lên; phát huy được vai trò dẫn dắt thị trường trong việc ổn định sản xuất, phát triển thị trường nội địa, bình ổn thị trường, đặc biệt là trong giai đoạn khó khăn do suy thoái kinh tế toàn cầu.

Khu vực kinh tế tập thể phát triển ngày càng đa dạng các hình thức tổ chức và hoạt động, nhất là trong lĩnh vực dịch vụ phục vụ nông nghiệp và thương mại.

Kinh tế tư nhân ngày càng phát triển nhanh, cả loại hình doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và các cơ sở kinh doanh cá thể, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế, giải quyết việc làm và thu ngân sách.

Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đang chuyển dần sang các ngành thâm dụng vốn và khoa học - công nghệ, từng bước đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và bảo vệ môi trường, đóng góp ngày càng nhiều vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa(5).

Tổng vốn đầu tư xã hội tiếp tục tăng cao(6), đa dạng hóa các hình thức huy động với việc phát huy vai trò “vốn mồi” của Nhà nước. Thu ngân sách tăng cao(7), hàng năm đều vượt chỉ tiêu nộp ngân sách do Trung ương giao, đóng góp trên 30% ngân sách quốc gia. Năm loại thị trường (hàng hóa và dịch vụ, tài chính, công nghệ, bất động sản, lao động) phát triển khá nhanh, góp phần huy động vốn cho đầu tư; nâng cao tiềm lực, thúc đẩy sáng chế, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ; phát triển thị trường nội địa và xuất khẩu; giải quyết việc làm.

Kinh tế đối ngoại tiếp tục được mở rộng trên cả 3 lĩnh vực xuất nhập khẩu (8), thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và nguồn vốn viện trợ phát triển (ODA) là nhân tố quan trọng thúc đẩy kinh tế thành phố tăng trưởng.

Môi trường kinh doanh và đầu tư tiếp tục được cải thiện qua những tiến bộ trong cải cách hành chính và các chính sách ưu đãi đầu tư lĩnh vực công nghệ cao, kết cấu hạ tầng, bảo vệ môi trường,… từng bước tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế; mở rộng quan hệ hợp tác phát triển kinh tế - xã hội với các tỉnh, thành phố; vị trí, vai trò của thành phố đối với khu vực và cả nước theo Nghị quyết số 20-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng nhiệm vụ phát triển thành phố Hồ Chí Minh và Nghị quyết số 53-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh vùng Đông Nam bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 ngày càng được khẳng định trên nhiều lĩnh vực: đóng góp vào quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế; thu ngân sách Nhà nước; kim ngạch xuất khẩu; tổng mức luân chuyển hàng hóa; huy động vốn đầu tư; dịch vụ, du lịch, khoa học - công nghệ; đào tạo nguồn nhân lực.

2. Quản lý và phát triển đô thị đạt một số kết quả nhất định, góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại

Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch (quy hoạch thành phố gắn với quy hoạch vùng; quy hoạch xây dựng gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; tổ chức thi quy hoạch - kiến trúc, thiết kế đô thị; thuê tư vấn quốc tế lập đồ án quy hoạch). Trên cơ sở quy hoạch xây dựng vùng thành phố Hồ Chí Minh, thành phố đã xây dựng và được Chính phủ phê duyệt, đang triển khai thực hiện Đồ án điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025, xây dựng quy định quản lý kiến trúc đô thị,… là cơ sở để tiến hành đồng bộ các giải pháp xử lý căn cơ kết cấu hạ tầng đô thị về giao thông, cấp nước, thoát nước, cải thiện môi trường; bổ sung chính sách bồi thường, hỗ trợ đối với đất nông nghiệp, đất vườn, ao liền kề đất ở trong khu dân cư; chủ động phối hợp với các bộ, ngành Trung ương tiến hành di dời, phát triển hệ thống cảng; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các sai phạm trong quản lý quy hoạch.

Việc phát triển các khu đô thị mới được tiến hành đồng thời với chỉnh trang đô thị hiện hữu; từng bước điều chỉnh tập quán cư trú nhà phố sang các chung cư cao tầng, tái bố trí dân cư và mở rộng không gian đô thị. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện, đưa vào sử dụng nhiều công trình giao thông, cấp nước, thoát nước, môi trường. Các chương trình sửa chữa, nâng cấp và xây mới chung cư hết hạn sử dụng, chương trình nhà ở xã hội, chương trình xây dựng 1 triệu m² nhà lưu trú của công nhân, chương trình xây dựng ký túc xá sinh viên, gắn với đầu tư phát triển dịch vụ đô thị (cấp điện, nước sạch, viễn thông, xử lý rác,...) đã góp phần giải quyết nhu cầu nhà ở của nhân dân, công nhân, sinh viên; khẩn trương chuẩn bị khởi công các dự án xây dựng hệ thống đường sắt đô thị (tuyến Metro số 1, Tramway, Monorail,...).

Công tác quản lý, bảo vệ và xử lý ô nhiễm môi trường được chú trọng và có tiến bộ. Tập trung quy hoạch tổng thể tài nguyên nước đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020 và quy hoạch tổng thể quản lý chất thải nguy hại. Gắn nội dung bảo vệ môi trường vào quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, các chương trình, dự án đầu tư. Triển khai các dự án thoát nước, xử lý chất thải nguy hại; hoàn thành cơ bản việc di dời các cơ sở sản xuất ô nhiễm môi trường vào khu quy hoạch; chủ động phối hợp với các tỉnh liên quan xây dựng và triển khai Đề án bảo vệ lưu vực sông Đồng Nai để ngăn chặn ô nhiễm nguồn nước, đáp ứng nhu cầu cấp nước sinh hoạt và sản xuất - kinh doanh.

Tập trung nguồn lực thực hiện 12 chương trình, công trình trọng điểm và 5 chương trình, công trình mang tính đòn bẩy do Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố đề ra; đến nay, đã phát huy tác dụng trên các lĩnh vực đời sống, góp phần đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và cải thiện chất lượng sống cho nhân dân.

3. Giáo dục - đào tạo có chuyển biến tích cực; chương trình xây dựng nguồn nhân lực được đẩy mạnh; hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ góp phần thiết thực hơn vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội; lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân không ngừng được cải thiện

Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất cho hệ thống giáo dục phổ thông, dạy nghề, giáo dục thường xuyên, quy hoạch xây dựng Khu đại học Tây Bắc và Đông Bắc thành phố. Tăng cường các giải pháp chăm lo đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, chú trọng biểu dương, nhân rộng các điển hình về đổi mới phương pháp dạy và học; đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo; phát huy vai trò của hội khuyến học trong phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập; phổ cập ngoại ngữ, tin học cho học sinh phổ thông.

Quy mô đào tạo các cấp học (mầm non, phổ thông, cao đẳng, đại học) tăng lên; giáo dục thường xuyên, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề được mở rộng; chất lượng dạy và học từng bước được nâng lên, tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông khá cao và ổn định; hoàn thành phổ cập bậc trung học, góp phần nâng cao mặt bằng dân trí thành phố. Mạng lưới các trường chuyên nghiệp phát triển nhanh; cơ cấu ngành nghề và chương trình đào tạo ngày càng sát với nhu cầu xã hội; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt chỉ tiêu đề ra.

Chương trình phát triển nguồn nhân lực bước đầu đạt kết quả tích cực trong việc đào tạo nhân lực cho các ngành, lĩnh vực trọng yếu, nhất là chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, đào tạo cán bộ cho hệ thống chính trị, đào tạo công nhân kỹ thuật, cán bộ quản lý và doanh nghiệp.

Khoa học - công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn được quan tâm đầu tư và phát huy hiệu quả; việc gắn kết khoa học với quá trình phát triển kinh tế - xã hội ngày càng tốt hơn, tỷ lệ ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất và đời sống tăng lên; việc tiếp thu, ứng dụng, làm chủ công nghệ tiên tiến có tiến bộ; thị trường công nghệ ngày càng được mở rộng, sự liên kết giữa các doanh nghiệp, cơ quan nghiên cứu, các trường đại học và cơ quan quản lý Nhà nước được tăng cường; vai trò nghiên cứu, tư vấn, phản biện xã hội của Liên hiệp Các hội khoa học - kỹ thuật thành phố và đội ngũ trí thức được phát huy, góp phần giải quyết các vấn đề bức xúc về kinh tế - xã hội; đồng thời cung cấp luận cứ khoa học để xây dựng chủ trương, chính sách và giải pháp quản lý phục vụ mục tiêu phát triển.

Việc xây dựng và phát triển các trung tâm nghiên cứu, ứng dụng và sản xuất sản phẩm công nghệ cao (Khu Công nghệ cao, Khu Nông nghiệp công nghệ cao, Viện Khoa học công nghệ tính toán, Trung tâm công nghệ sinh học, Phòng thí nghiệm tế bào gốc, Công viên phần mềm Quang Trung, Trung tâm thiết kế chế tạo thiết bị mới, Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia,…), gắn với đề án đổi mới cơ chế, chính sách thu hút và sử dụng lực lượng khoa học - công nghệ thành phố và người Việt Nam ở nước ngoài bước đầu đạt kết quả tích cực trong việc thu hút nguồn lực khoa học - công nghệ phát triển thành phố.

Đời sống văn hóa của nhân dân thành phố ngày được nâng lên, những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của con người thành phố được tiếp tục khơi dậy, phát huy. Các thiết chế, công trình văn hóa được tăng cường đầu tư, nâng cấp; hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước được nâng cao. Gắn cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở”, “Nếp sống văn minh đô thị”, tạo chuyển biến khá tích cực trong nhận thức và hành động của toàn xã hội trong thực hiện nếp sống văn minh, từng bước đẩy lùi hủ tục, mê tín dị đoan trong cộng đồng.

Hoạt động kỷ niệm các sự kiện chính trị quan trọng, các phong trào thi đua yêu nước đã góp phần giáo dục truyền thống, lý tưởng cách mạng, tạo động lực để nhân dân tích cực thực hiện mục tiêu xây dựng, bảo vệ, phát triển thành phố.

Văn học - nghệ thuật có phát triển, góp phần giáo dục chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, chủ nghĩa nhân văn sâu sắc của dân tộc, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân.

Báo chí - xuất bản đóng góp tích cực trong việc thông tin, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, các vấn đề xã hội quan tâm, cổ vũ phong trào thi đua yêu nước, tham gia phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong xã hội.

Thể dục - thể thao được chú trọng đầu tư và mở rộng theo hướng xã hội hóa để phát triển cơ sở vật chất cho ngành, đáp ứng yêu cầu đào tạo và tổ chức thi đấu, đóng góp thiết thực vào thành tựu chung của thể thao đất nước. Phong trào thể dục - thể thao cộng đồng thông qua cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” ngày càng phát triển, góp phần nâng cao thể chất của nhân dân và xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh.

Hệ thống y tế được đầu tư phát triển; mạng lưới y tế cơ sở được củng cố, nâng cấp, với sự hỗ trợ chuyên môn của bệnh viện tuyến trên và các cơ sở đông y; các bệnh viện chuyên khoa, đa khoa được đầu tư, nâng cao chất lượng điều trị; các loại hình dịch vụ y tế phát triển đa dạng, nhiều công nghệ y học mới được nghiên cứu, ứng dụng hiệu quả; cơ bản đáp ứng việc khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân; đối tượng tham gia bảo hiểm y tế được mở rộng; các dịch bệnh nguy hiểm được khống chế, đẩy lùi; các cơ sở sản xuất dược phẩm được đầu tư thiết bị hiện đại, cung ứng tốt hơn thuốc điều trị bệnh. Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ y tế được nâng lên, từng bước thực hiện các kỹ thuật cao trong điều trị ngang tầm các nước trong khu vực; số lượng bác sĩ, số giường bệnh ở các bệnh viện hàng năm đều tăng. Công tác thanh tra, giám sát an toàn thực phẩm được tăng cường. Các chính sách dân số, gia đình và trẻ em được chú trọng thực hiện đạt kết quả thiết thực. Tốc độ tăng dân số tự nhiên giảm, đạt chỉ tiêu đề ra. Chủ trương xã hội hóa các nguồn lực trong và ngoài nước tham gia đầu tư phát triển y tế đã góp phần nâng cao quy mô, hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Các chương trình an sinh xã hội đạt kết quả tích cực, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện. Mục tiêu tạo việc làm mới hàng năm vượt chỉ tiêu đề ra, góp phần kéo giảm tỷ lệ thất nghiệp; giải quyết việc làm mới cho hơn 80% lao động mất việc do suy giảm kinh tế. Chương trình giảm nghèo theo tiêu chí 6 triệu đồng/người/năm đã hoàn thành vào năm 2008, theo tiêu chí dưới 12 triệu đồng/người/năm (cả nội thành và ngoại thành) đến cuối tháng 6-2010 giảm còn 7,12%.

Trong hơn 2 năm qua, bên cạnh việc giữ ổn định giá dịch vụ công, thành phố có chính sách hỗ trợ các hộ nghèo bị khó khăn do tác động của lạm phát; phong trào đền ơn đáp nghĩa, thực hiện chính sách với người có công và gia đình, xây dựng nhà tình nghĩa, tình thương tiếp tục được nhân rộng.

4. An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững, cải cách tư pháp có chuyển biến tích cực; công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế được tăng cường và mở rộng, tạo môi trường thuận lợi để phát triển thành phố

Nhận thức rõ vai trò, vị trí, tầm quan trọng của địa bàn trọng điểm về an ninh quốc phòng, thành phố kịp thời chỉ đạo xây dựng các chương trình, kế hoạch thực hiện có hiệu quả các nghị quyết về quốc phòng - an ninh, gắn nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội với xây dựng quốc phòng - an ninh trong chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh; nâng cao hiệu quả lãnh đạo xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân.

Chăm lo đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng lực lượng quân đội, công an, biên phòng thành phố trong sạch, vững mạnh; chăm lo xây dựng dân quân tự vệ, dân phòng, bảo vệ dân phố; bảo đảm sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống; kiện toàn tổ chức bộ máy, đầu tư trang thiết bị hiện đại cho lực lượng cảnh sát phòng cháy - chữa cháy đáp ứng yêu cầu công tác phòng, chống cháy và cứu hộ - cứu nạn trên địa bàn.

Lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng thế trận an ninh nhân dân, triệt phá âm mưu phá hoại gây mất ổn định chính trị của các thế lực thù địch. Tăng cường chỉ đạo lập lại trật tự an toàn giao thông, chương trình mục tiêu 3 giảm, kéo giảm tội phạm và tệ nạn xã hội; xử lý kịp thời các vụ tranh chấp lao động tập thể của công nhân; tập trung giải quyết các vụ khiếu kiện tồn đọng, chấn chỉnh, nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhất là “khiếu kiện đông người” từ các tỉnh về thành phố, gắn với phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, bảo đảm an ninh, trật tự trên địa bàn, góp phần giữ vững ổn định chính trị của đất nước.

Cải cách tư pháp tiếp tục được tập trung thực hiện, tạo chuyển biến tích cực trong kiện toàn, nâng cao chất lượng tổ chức bộ máy, quy hoạch, tuyển dụng, đào tạo, bố trí, luân chuyển cán bộ, đầu tư cơ sở vật chất và chăm lo đời sống cán bộ tư pháp các cấp. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật được đẩy mạnh, từng bước nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân. Chất lượng điều tra, truy tố, xét xử, tranh tụng tại phiên tòa, thi hành án ngày được nâng lên; tòa án nhân dân quận, huyện thực hiện khá tốt thẩm quyền được tăng thêm; việc đề cao vai trò luật sư trong tố tụng bước đầu có kết quả; khắc phục được tình trạng truy tố, xét xử oan, sai, hạn chế được tình trạng bỏ lọt tội phạm, giảm khá nhiều vụ án và thi hành án dân sự tồn đọng, kéo dài, thí điểm tổ chức thừa phát lại, xã hội hóa hoạt động công chứng, kiện toàn các tổ chức giám định tư pháp góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật, tạo chuyển biến tích cực trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Với tư tưởng chủ động hội nhập và năng động, sáng tạo trong thực hiện, công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế mang lại hiệu quả tích cực, thể hiện sinh động quan điểm, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế của Đảng. Quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa thành phố với địa phương các nước được đẩy mạnh; phát huy vai trò đối ngoại nhân dân qua hoạt động hợp tác kinh tế, giao lưu văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, gắn với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Công tác thông tin đối ngoại được tăng cường, góp phần quảng bá hình ảnh một thành phố năng động, sáng tạo, giàu tiềm năng hợp tác, có chính sách tạo môi trường thuận lợi thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ, mở rộng thị trường, du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển. Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đạt kết quả thiết thực, giúp kiều bào hiểu rõ hơn tình hình đất nước và thành phố để tích cực tham gia xây dựng quê hương, có điều kiện thuận lợi cho việc làm ăn, sinh sống ở thành phố.

5. Công tác xây dựng Đảng được tăng cường; hệ thống chính trị không ngừng được củng cố và hoạt động ngày càng hiệu quả

a. Quán triệt quan điểm xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, trong nhiệm kỳ qua, toàn Đảng bộ tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả xây dựng và chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên, gắn với thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” tạo được kết quả bước đầu quan trọng.

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng được đổi mới và tập trung hơn. Việc giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước được chú trọng; việc nghiên cứu, quán triệt gắn với xây dựng chương trình hành động thực hiện các nghị quyết của Trung ương được triển khai kịp thời, sát thực tiễn. Công tác thông tin, tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ chính trị được tăng cường; gắn việc nắm tình hình tư tưởng cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân với giáo dục truyền thống cách mạng, lòng tự hào về dân tộc, về Đảng, xây dựng đạo đức, lối sống, nâng cao ý thức cảnh giác, đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, phản bác các quan điểm sai trái, các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Là Đảng bộ được Trung ương chọn làm điểm chỉ đạo cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, qua gần 4 năm thực hiện, cuộc vận động đã đi vào cuộc sống, tạo được kết quả bước đầu quan trọng trong nhận thức, hành động của toàn Đảng bộ và xã hội. Phần lớn cán bộ, đảng viên tích cực học tập, nỗ lực làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Bác Hồ trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống bằng những việc làm cụ thể, thiết thực; hầu hết cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành đều có chương trình, kế hoạch, nội dung rèn luyện, phấn đấu, báo cáo chi bộ, cấp ủy nơi mình công tác góp ý, tạo điều kiện thực hiện và định kỳ hàng năm kiểm điểm nội dung đăng ký rèn luyện trước chi bộ theo đúng chỉ đạo của Bộ Chính trị và Ban Chỉ đạo Trung ương; đã xuất hiện ngày càng nhiều tấm gương cần, kiệm, liêm, chính trong Đảng và xã hội, góp phần ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, xây dựng, nâng cao nền tảng tinh thần trong xã hội.

Việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng có chuyển biến tích cực, vai trò hạt nhân lãnh đạo của tổ chức Đảng đối với hệ thống chính trị, nhất là tại phường - xã, thị trấn được phát huy; công tác xây dựng, củng cố tổ chức Đảng ở các lĩnh vực trọng yếu, có nhiều khó khăn được chú trọng hơn. Việc phân tích chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên hàng năm được cải tiến theo hướng nâng cao chất lượng, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ từng loại hình tổ chức cơ sở Đảng; kịp thời đề ra biện pháp khắc phục hạn chế, yếu kém, kéo giảm số cơ sở Đảng yếu kém, số đảng viên vi phạm tư cách, nâng tỷ lệ đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ hàng năm; chất lượng sinh hoạt chi bộ, ý thức trách nhiệm xây dựng Đảng, tinh thần tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên được nâng lên. Công tác đảng viên được quan tâm chỉ đạo trên cả 3 mặt: phát triển, quản lý và nâng cao chất lượng; số lượng đảng viên mới kết nạp hàng năm đều tăng; xây dựng tổ chức Đảng, kết nạp đảng viên trong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bước đầu đạt một số kết quả thiết thực.

Công tác cán bộ được chú trọng. Việc quy hoạch cán bộ dài hạn gắn với chủ trương đào tạo, tăng cường cán bộ trẻ tuổi về cơ sở và bổ sung cán bộ trẻ tuổi vào cấp ủy đạt kết quả thiết thực. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ gắn với quy hoạch và yêu cầu nhiệm vụ chính trị từng bước được mở rộng, bảo đảm yêu cầu tiêu chuẩn hóa cán bộ đáp ứng nhiệm vụ trước mắt và lâu dài. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu và các tổ chức trong hệ thống chính trị đối với công tác cán bộ; việc phân cấp quản lý, nhận xét, đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm, đề bạt, bố trí, điều động, thực hiện chính sách cán bộ được cụ thể hóa bằng quy định, quy chế thống nhất, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, tạo chuyển biến tích cực. Công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí, điều động, luân chuyển cán bộ được thực hiện đúng quy trình, quy định, bảo đảm tiêu chuẩn và phát huy tốt. Kịp thời thay thế số cán bộ không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường. Chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, bộ máy tổ chức, điều kiện hoạt động của ủy ban kiểm tra và cơ quan ủy ban kiểm tra các cấp tiếp tục được củng cố, phát huy và thực hiện tốt công tác luân chuyển, quy hoạch, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ kiểm tra các cấp. Cùng với việc triển khai kịp thời các chủ trương, quy định, hướng dẫn của Trung ương, Thành ủy đã ban hành quy chế phối hợp giữa Ủy ban Kiểm tra Thành ủy với các cơ quan liên quan trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng; xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch kiểm tra, giám sát đối với các tổ chức Đảng hàng năm; trong đó, chú trọng kiểm tra các lĩnh vực về phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng đất đai, sử dụng ngân sách đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản công; tiếp nhận, quản lý, phân bổ tiền quyên góp khắc phục hậu quả thiên tai, hỗ trợ người nghèo, các hoạt động xã hội - từ thiện. Xử lý nghiêm minh khuyết điểm, vi phạm của tổ chức Đảng, đảng viên. Công tác giám sát bước đầu đạt một số kết quả thiết thực, góp phần ngăn ngừa vi phạm của tổ chức Đảng, đảng viên.

Phương thức lãnh đạo của Thành ủy và các cấp ủy đối với hệ thống chính trị tiếp tục được đổi mới theo hướng tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đối với những vấn đề trọng yếu, đồng thời phát huy trách nhiệm, tính năng động, sáng tạo của các tổ chức Đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu. Việc mở rộng, phát huy dân chủ trong Đảng được chú trọng. Chủ trương thực hiện thí điểm bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân quận - huyện, phường - xã, thị trấn bước đầu phát huy vai trò người đứng đầu của tổ chức Đảng, cơ quan quản lý Nhà nước trong lãnh đạo, chỉ đạo và xử lý công việc kịp thời, hiệu quả.

b. Năng lực tổ chức thực hiện và hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy chính quyền có chuyển biến tích cực.

Hoạt động của đoàn đại biểu Quốc hội thành phố, Hội đồng nhân dân thành phố, hội đồng nhân dân xã tiếp tục được đổi mới theo hướng cải tiến, nâng cao chất lượng tiếp xúc cử tri, chất vấn và trả lời chất vấn tại các kỳ họp, tăng cường công tác giám sát theo chuyên đề, góp phần giải quyết kịp thời các vấn đề dư luận bức xúc, được nhân dân đồng thuận, hưởng ứng.

Việc kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan chính quyền được quan tâm thực hiện thường xuyên; gắn chỉ đạo thực hiện thí điểm chủ trương không tổ chức hội đồng nhân dân quận - huyện, phường với việc sắp xếp lại các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân; công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nhận thức chính trị, trình độ chuyên môn, kiến thức luật pháp, kiến thức về hội nhập kinh tế quốc tế cho đội ngũ cán bộ, công chức được tăng cường; công tác thanh tra công vụ, phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí có chuyển biến tích cực; những vụ án nghiêm trọng được phát hiện, xử lý nghiêm minh.

Công tác cải cách hành chính về thủ tục, quản lý tài chánh công, hiện đại hóa nền hành chính theo chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2 (2007 - 2010) tiếp tục được đẩy mạnh; phát triển cơ chế “một cửa” thành “một cửa liên thông”; mở rộng phân cấp quản lý cho các sở - ngành, quận - huyện, khoán biên chế và kinh phí hành chính cho các đơn vị; ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý Nhà nước và cung ứng dịch vụ hành chính công, góp phần giảm phiền hà cho tổ chức, doanh nghiệp và công dân.

c. Việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa có tiến bộ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, tăng cường.

Công tác vận động nhân dân được tập trung thông qua việc xây dựng, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, bảo đảm vai trò giám sát của nhân dân đối với hoạt động của các tổ chức Đảng, cơ quan quản lý hành chính, cán bộ, đảng viên, công chức.

Tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức, chăm lo quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ; nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan tham mưu về công tác tôn giáo - dân tộc. Đẩy mạnh việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở; tăng cường tổ chức tiếp xúc, đối thoại với các giới để nắm tình hình, tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, tôn trọng các loại ý kiến khác nhau, kịp thời chỉ đạo giải quyết các vấn đề bức xúc của các giới. Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội phát huy tốt hơn vai trò tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức, đa dạng hóa các hình thức tập hợp; cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; các phong trào hành động cách mạng được tổ chức đều khắp, chất lượng được nâng lên.

Phát huy vai trò công đoàn trong tập hợp, giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, học vấn, tay nghề và cải thiện đời sống công nhân, người lao động, từng bước xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp; tăng cường chỉ đạo xây dựng giai cấp công nhân; xây dựng tổ chức cơ sở Đảng, tổ chức chính trị - xã hội, phát triển đảng viên, đoàn viên trong doanh nghiệp.

Phát huy vai trò của hội nông dân trong việc bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, tay nghề, giới thiệu việc làm, hỗ trợ công nghệ, vốn sản xuất, tiêu thụ nông sản; tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn, nhất là 20 xã - phường nghèo, thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới tại 6 xã, cải thiện bộ mặt nông thôn và đời sống nông dân.

Chú trọng tạo điều kiện và môi trường cho đội ngũ trí thức hoạt động; phát huy vai trò tư vấn, giám định, phản biện xã hội của Liên hiệp Các hội khoa học - kỹ thuật thành phố, Liên hiệp Các hội văn học - nghệ thuật thành phố và đội ngũ trí thức trong tham gia xây dựng các chương trình kinh tế - xã hội trọng điểm của thành phố.

Tạo môi trường để thanh niên học tập, sáng tạo, rèn luyện, cống hiến, trưởng thành; chăm lo xây dựng đoàn, hội liên hiệp thanh niên, hội sinh viên vững mạnh, phát huy vai trò đoàn, hội trong việc chăm lo giáo dục, bồi dưỡng nhận thức chính trị, rèn luyện đạo đức, lối sống lành mạnh và tổ chức phong trào hành động cách mạng của thế hệ trẻ.

Thực hiện tốt chính sách bình đẳng giới trong xã hội; phát huy vai trò của hội liên hiệp phụ nữ trong tập hợp, giáo dục, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần phụ nữ; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.

Phát huy vai trò của cựu chiến binh và cán bộ hưu trí tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và chăm lo đời sống của cựu chiến binh, cán bộ hưu trí. Thực hiện tốt chính sách đối với người cao tuổi; phát huy vai trò gia đình, cộng đồng trong việc chăm sóc, phụng dưỡng người cao tuổi và vai trò của người cao tuổi trong việc giáo dục con cháu.

Vai trò Hiệp hội doanh nghiệp và các hội ngành nghề được phát huy trong việc tập hợp doanh nhân, vận động doanh nghiệp tham gia xây dựng, phát triển thành phố; hỗ trợ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển.

Luôn quan tâm thực hiện tốt các chính sách của Đảng và Nhà nước về dân tộc, tôn giáo; chăm lo cải thiện đời sống vật chất và văn hóa cho đồng bào các dân tộc, các tôn giáo. Phát huy vai trò của Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài trong tuyên truyền, vận động kiều bào tham gia xây dựng thành phố và đất nước.

II. VỀ HẠN CHẾ, YẾU KÉM

1. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh chưa cao

Các chính sách, giải pháp hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã ban hành chưa đủ mạnh, chưa tạo được sự đột phá; chuyển dịch cơ cấu nội bộ các ngành kinh tế và cơ cấu lao động chậm; chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh chưa cao; tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ có giá trị gia tăng cao, năng suất lao động cao còn thấp; nền sản xuất còn mang nặng tính gia công, sơ chế dựa vào lao động giản đơn; tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) và ngành công nghiệp chưa đạt chỉ tiêu đề ra; quy mô, tỷ trọng của khu vực kinh tế tập thể quá nhỏ, chưa góp phần đáng kể vào việc tăng cường định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường. Nhìn chung, sức cạnh tranh của kinh tế thành phố trong hội nhập kinh tế quốc tế còn yếu; tiềm năng, lợi thế của thành phố chưa được huy động, khai thác đúng mức, kết quả hợp tác phát triển kinh tế - xã hội với các địa phương còn hạn chế.

2. Kết cấu hạ tầng ngày càng quá tải, gây bức xúc cho nhân dân, cản trở mục tiêu tăng trưởng kinh tế và cải thiện dân sinh; quy hoạch và quản lý đô thị chưa theo kịp tốc độ phát triển

Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch, quản lý đô thị chưa đáp ứng yêu cầu. Điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố, quy hoạch chi tiết quận - huyện còn chậm, chất lượng chưa cao; tiến độ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để giải phóng mặt bằng tại nhiều công trình kéo dài, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư và cuộc sống người dân; đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là các công trình trọng điểm, các công trình kết cấu hạ tầng nối kết với các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam thực hiện chậm, thiếu đồng bộ; sự gia tăng dân số cơ học và phương tiện giao thông cá nhân quá nhanh dẫn đến sự quá tải kết cấu hạ tầng vốn đã yếu kém, gây ra tình trạng ùn tắc giao thông, ngập nước, ô nhiễm môi trường… ngày càng nghiêm trọng, gây bức xúc xã hội, cản trở tăng trưởng kinh tế, cải thiện dân sinh và bảo vệ môi trường.

3. Chất lượng giáo dục - đào tạo và nguồn nhân lực chưa tương xứng với yêu cầu phát triển và hội nhập; khoa học và công nghệ chưa thật sự là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; một số vấn đề văn hóa - xã hội bức xúc chậm được khắc phục

Xây dựng hệ thống trường lớp theo quy hoạch còn chậm, nhất là các địa bàn đang đô thị hóa; chất lượng giáo dục - đào tạo chưa tương xứng với yêu cầu phát triển và hội nhập; công tác quản lý nhà nước đối với các cơ sở đào tạo có yếu tố nước ngoài chưa chặt chẽ; chất lượng, cơ cấu đào tạo nghề chưa theo kịp nhu cầu thị trường lao động; chương trình phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao còn hạn chế, việc đào tạo đội ngũ chuyên gia, lao động kỹ thuật cao còn ít, chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Khai thác tiềm lực khoa học - công nghệ và năng lực sáng tạo công nghệ còn hạn chế; phát triển khoa học - công nghệ chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; thị trường công nghệ quy mô còn quá nhỏ; việc đổi mới thiết bị, công nghệ của doanh nghiệp còn chậm; đầu tư phát triển khoa học - công nghệ còn dàn trải; kết quả ứng dụng các đề tài nghiên cứu khoa học chưa cao.

Phát triển văn hóa chưa tương xứng với vị trí và tiềm năng của thành phố, chưa thể hiện tốt vai trò nền tảng tinh thần xã hội; việc chấn chỉnh, khắc phục các biểu hiện lệch lạc, nhất là xu hướng thương mại hóa trong hoạt động báo chí, xuất bản, văn học - nghệ thuật, có lúc chưa kịp thời, có lĩnh vực chưa vững chắc; môi trường xã hội bị ô nhiễm bởi sự xâm nhập của các sản phẩm phi văn hóa; biểu hiện xuống cấp về đạo đức, hiện tượng bạo lực trong xã hội gây lo ngại trong nhân dân; hiệu quả thực hiện phong trào xây dựng nếp sống văn minh đô thị chưa cao; sự chênh lệch đời sống và mức hưởng thụ văn hóa giữa nhân dân nội thành và ngoại thành còn lớn.

Chủ trương xã hội hóa phát triển lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao thực hiện trong nhiều năm nhưng chưa được tổng kết để bổ sung cơ chế, chính sách phù hợp. Quy hoạch phát triển mạng lưới y tế chưa đồng bộ với quy hoạch chung của thành phố; xây dựng các bệnh viện ở cửa ngõ thành phố, Khu y tế kỹ thuật cao còn chậm, hầu hết các cơ sở y tế bị quá tải, chưa bảo đảm nhu cầu điều trị bệnh của nhân dân; quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm chưa tốt. Công tác đào tạo, quản lý, chính sách đối với đội ngũ huấn luyện viên, vận động viên chưa được chú trọng đúng mức, ảnh hưởng đến thể thao thành tích cao ngày càng suy giảm; xây dựng khu liên hợp thể thao Rạch Chiếc còn chậm.

4. An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội còn diễn biến phức tạp; cải cách tư pháp còn hạn chế, chưa đồng bộ

Nhận thức nhiệm vụ an ninh - quốc phòng của một số cơ quan, đơn vị và một bộ phận đảng viên, cán bộ, công chức và nhân dân chưa sâu sắc; việc xử lý “khiếu kiện đông người” từ các tỉnh về thành phố còn khó khăn.

Trật tự an toàn xã hội còn diễn biến phức tạp, một số vụ trọng án, sử dụng vũ khí gây án còn xảy ra, việc đấu tranh, xử lý số tội phạm mới (tội phạm người nước ngoài, tội phạm lợi dụng công nghệ cao, tội phạm lừa đảo tiền tệ quốc tế…) còn hạn chế; chỉ đạo thực hiện chương trình mục tiêu 3 giảm, chuyển hóa địa bàn trọng điểm chưa căn cơ, triệt để; tai nạn giao thông còn nhiều, nguy cơ cháy còn lớn; phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc chưa thật sâu rộng, một bộ phận nhân dân còn thờ ơ, không dám tố giác tội phạm.

Kết quả cải cách tư pháp chưa đồng bộ ở các lĩnh vực, nhiều vụ án và thi hành án dân sự tồn đọng chưa được xử lý dứt điểm, tỷ lệ án hủy, án trả để điều tra bổ sung tuy có giảm nhưng chưa đạt yêu cầu; trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức một bộ phận cán bộ tư pháp chưa đáp ứng kịp nhiệm vụ cải cách tư pháp.

5. Kết quả công tác xây dựng Đảng trên một số mặt còn hạn chế; hệ thống chính trị chưa đáp ứng kịp yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới

Hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng chưa cao, việc đổi mới nội dung và phương thức công tác tư tưởng chưa đáp ứng yêu cầu, tính chiến đấu, tính thuyết phục còn yếu; việc nắm tình hình, xử lý các vấn đề bức xúc phát sinh còn chậm. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, nhất là “nỗ lực làm theo” chưa lan tỏa sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân; việc thực hiện ở một số cơ sở còn hình thức, nhận thức chưa sâu sắc; các gương điển hình tiên tiến làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chưa nhiều trong các cấp, các ngành.

Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của không ít tổ chức cơ sở Đảng còn yếu, chưa thể hiện tốt vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở, chậm phát hiện và chủ động lãnh đạo giải quyết các vấn đề phát sinh. Công tác xây dựng tổ chức Đảng, tổ chức chính trị - xã hội trong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn chậm, vai trò của tổ chức Đảng khu vực này còn mờ nhạt. Kết quả xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh chưa đạt chỉ tiêu đề ra; việc đánh giá chất lượng tổ chức Đảng và đảng viên của một số đơn vị còn nặng thành tích, chưa phản ánh đúng thực chất. Chất lượng sinh hoạt chi bộ ở một số cơ sở Đảng chưa cao, chưa tích cực đổi mới nội dung sinh hoạt theo chuyên đề; tự phê bình và phê bình còn yếu, còn tình trạng nể nang, ngại đụng chạm, thiếu trách nhiệm trong xây dựng nội bộ. Một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu, giảm sút ý chí phấn đấu, phai nhạt lý tưởng, dao động, mất niềm tin, quan liêu, tham nhũng, suy thoái đạo đức, lối sống… ảnh hưởng xấu đến uy tín, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, giảm sút lòng tin của nhân dân. Công tác đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu; chất lượng quy hoạch và đào tạo cán bộ chưa cao, công tác nghiên cứu, dự báo nhu cầu đào tạo cán bộ chưa sát với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quản lý đô thị.

Kiểm tra, giám sát, nhất là phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa được tập trung đúng mức; việc phát hiện những điển hình tốt, cách làm hay để nhân rộng và động viên khen thưởng còn ít; một số cấp ủy chưa lãnh đạo ủy ban kiểm tra các cấp thực hiện tốt vai trò tham mưu giúp cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo ngăn ngừa sai phạm, đặc biệt ở những ngành dễ phát sinh tiêu cực; chất lượng tự kiểm tra ở một số đơn vị, địa phương còn hạn chế, việc theo dõi, chỉ đạo khắc phục hậu quả sau kiểm tra chưa chặt chẽ; tỷ lệ đảng viên sai phạm tuy có giảm nhưng chưa nhiều, mức độ vi phạm nghiêm trọng còn xảy ra.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đối với hệ thống chính trị còn chậm; giải quyết sự vụ, hội họp còn nhiều, cải cách thủ tục hành chính trong Đảng chưa mạnh; công tác chuẩn bị, thẩm định các đề án, dự thảo nghị quyết trước khi ban hành còn hạn chế; chất lượng tổng kết thực tiễn chưa cao; chức năng, nhiệm vụ một số đảng đoàn, ban cán sự Đảng, Đảng ủy cấp trên cơ sở không có chính quyền cùng cấp chưa được xác định rõ, hoạt động còn lúng túng.

Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực còn hạn chế, nhất là quy hoạch, quản lý quy hoạch, quản lý xã hội; quy trình, thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp, còn phiền hà cho nhân dân và doanh nghiệp. Đội ngũ cán bộ, công chức vừa thiếu, vừa thừa, nhiều cán bộ còn yếu về năng lực, kinh nghiệm thực tiễn. Kết quả phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn hạn chế, xử lý một số vụ án tham nhũng còn chậm; tình trạng cửa quyền, nhũng nhiễu, thái độ thờ ơ trong giải quyết công việc còn tồn tại trong một bộ phận cán bộ, công chức gây bức xúc trong xã hội.

Công tác vận động nhân dân đạt hiệu quả chưa cao; việc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia các phong trào hành động cách mạng chưa sâu rộng, thường xuyên; thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở một số nơi còn hình thức, nhiều vấn đề bức xúc của nhân dân chưa được các cấp, các ngành quan tâm giải quyết kịp thời; hiệu quả hoạt động của một số đoàn thể còn hạn chế; tình trạng “hành chính hóa”, bệnh hình thức trong hoạt động của một số đoàn thể chậm được khắc phục; chất lượng đoàn viên, hội viên chưa cao.

Tổ chức bộ máy cơ quan Đảng, chính quyền, mặt trận và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp chưa thật tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.

* * *

Nhìn chung, 5 năm qua, diễn biến phức tạp trên thế giới và những khó khăn trong nước đã có những tác động bất lợi, song Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố đã nỗ lực phấn đấu vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, thực hiện thành công việc ngăn chặn lạm phát, suy giảm kinh tế và đã đạt được những thành tựu quan trọng và khá toàn diện.

Kinh tế từng bước hồi phục, hoạt động của khu vực kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể được củng cố và phát huy vai trò nòng cốt trong nền kinh tế thị trường; khu vực kinh tế tư nhân phát triển nhanh; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng nâng tỷ trọng dịch vụ cao cấp, từng bước giảm dần tỷ trọng các ngành công nghiệp thâm dụng lao động, phát triển nông nghiệp đô thị, tạo chuyển biến tích cực trong cơ cấu kinh tế; hoạt động đối ngoại và hợp tác kinh tế với các tỉnh được mở rộng; khoa học công nghệ, văn hóa, giáo dục - đào tạo, y tế… có bước phát triển tích cực; việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội và chương trình giảm nghèo theo tiêu chí mới góp phần cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân; an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng, chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng lên; cải cách hành chính, cải cách tư pháp, phòng chống tham nhũng, lãng phí được đẩy mạnh; hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước có chuyển biến tích cực; vai trò của mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy.

Vị trí, vai trò của thành phố đối với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước ngày càng được khẳng định và tiếp tục có những đóng góp vào quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hình thành những quan điểm, chủ trương, chính sách đổi mới, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng.

Những thành tựu quan trọng và khá toàn diện đạt được trong 5 năm qua không chỉ đánh dấu bước phát triển mới trên con đường xây dựng thành phố xã hội chủ nghĩa, văn minh, hiện đại, mà còn là bài học thực tiễn quý giá để nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện mục tiêu phát triển thành phố trong giai đoạn mới.

Tuy nhiên, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của kinh tế thành phố còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và yêu cầu đặt ra đối với thành phố. Quy hoạch và quản lý đô thị chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, kết cấu hạ tầng ngày càng quá tải, gây bức xúc cho nhân dân, cản trở sự phát triển kinh tế.

Chất lượng giáo dục - đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chưa tương xứng với yêu cầu phát triển, hội nhập của thành phố. Khoa học - công nghệ chưa thật sự là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Một số vấn đề về văn hóa, xã hội bức xúc chậm được khắc phục. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội còn diễn biến phức tạp. Kết quả công tác xây dựng Đảng trên một số mặt còn hạn chế. Hệ thống chính trị chưa đáp ứng kịp yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Những thành tựu và những hạn chế, yếu kém trên do những nguyên nhân

Đạt được những thành tựu trên là do: (1) Đường lối đổi mới toàn diện của Đảng, sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của Trung ương Đảng, sự quản lý, điều hành năng động của Quốc hội, Chính phủ trong khắc phục ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu; sự phối hợp, hỗ trợ của các bộ, ban, ngành Trung ương và các địa phương đối với thành phố. (2) Truyền thống cách mạng kiên cường, phấn đấu bền bỉ, năng động, sáng tạo của Đảng bộ và nhân dân thành phố; tiềm năng kinh tế và kinh nghiệm quản lý của thành phố trong những năm đổi mới. (3) Sự nỗ lực phấn đấu cao của các cấp ủy, chính quyền, mặt trận, các đoàn thể chính trị - xã hội, các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân thành phố trong 5 năm qua.

Nguyên nhân hạn chế, yếu kém: Về khách quan, các cơ chế, chính sách, quy định pháp luật chưa đáp ứng quá trình phát triển, quá trình đô thị hóa của đất nước; chưa tạo điều kiện phát huy tiềm năng, lợi thế vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đặc biệt là chưa có cơ chế, chính sách để phát triển nhanh và bền vững đối với một đô thị loại đặc biệt, có quy mô dân số khoảng 10 triệu dân trong tương lai gần, để đóng góp ngày càng nhiều hơn cho cả nước; những hạn chế trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành, các vùng; tình trạng đầu tư dàn trải, trùng lặp trong kinh tế đất nước, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu.

Về chủ quan, lãnh đạo, chỉ đạo của Thành ủy thiếu bao quát, chưa quan tâm đúng mức việc tổng kết sâu sắc thực tiễn, nâng tầm lý luận làm cơ sở đề ra chính sách có tính chiến lược để thực hiện tốt mục tiêu phát triển thành phố; chưa kiên trì kiến nghị với Trung ương bổ sung, điều chỉnh một số cơ chế, chính sách phù hợp với thực tiễn yêu cầu phát triển thành phố. Công tác quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền còn hạn chế; công tác thống kê, nghiên cứu, dự báo, quy hoạch mang tính chiến lược chưa đáp ứng yêu cầu; tổ chức thực hiện và tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trên một số lĩnh vực chưa kịp thời; chỉ đạo thực hiện các chương trình mang tính đòn bẩy chưa quyết liệt.

Việc phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và nhân dân chưa được tập trung chỉ đạo đúng mức; kiểm tra, chấn chỉnh, khắc phục các yếu kém trong thực hiện chủ trương, chính sách, nghị quyết của Trung ương về xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và công tác vận động nhân dân chưa thường xuyên; công tác cán bộ chậm đổi mới, một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo trong 5 năm qua, rút ra một số kinh nghiệm:

Một là, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, truyền thống cách mạng kiên cường, phấn đấu bền bỉ, năng động, sáng tạo của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố trong thực hiện nhiệm vụ chính trị. Điều đó đòi hỏi trong lãnh đạo, chỉ đạo của Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy và các cấp ủy phải có quyết tâm chính trị cao, luôn tạo điều kiện thúc đẩy, phát huy sự sáng tạo của nhân dân, của các thành phần kinh tế, kịp thời phát hiện vấn đề mới, thực hiện thí điểm, đề ra những giải pháp đột phá, thường xuyên kiểm tra, sơ kết, tổng kết, đề ra và bổ sung cơ chế, chính sách phù hợp để hình thành và phát triển những nhân tố mới.

Hai là, tăng cường công tác xây dựng Đảng bộ vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, thường xuyên tự chỉnh đốn, đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tăng cường đoàn kết, tạo sự thống nhất về tư tưởng, tổ chức và hành động trong toàn Đảng bộ; không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; gắn bó mật thiết với nhân dân, dựa vào dân để xây dựng Đảng; thường xuyên chăm lo công tác cán bộ, vì “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, là khâu then chốt của vấn đề then chốt, làm tốt công tác cán bộ từ khâu đánh giá, quản lý, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí đúng cán bộ, nhất là người đứng đầu; đồng thời phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát phòng ngừa sai phạm của tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên, là những nhân tố quyết định trực tiếp đến hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của mọi cấp, mọi ngành, mọi thời kỳ, cả trước mắt và lâu dài.

Ba là, chăm lo thực hiện tốt công tác vận động nhân dân, mọi chính sách phải vì nhân dân, xuất phát từ quyền lợi của nhân dân, nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, giảm khoảng cách nghèo, giàu trong các tầng lớp dân cư. Điều đó đòi hỏi các cấp, các ngành, mỗi cán bộ, đảng viên phải bám sát thực tiễn, trọng dân, tin dân, lắng nghe ý kiến của dân và kịp thời giải quyết thỏa đáng các vấn đề bức xúc của nhân dân, xây dựng được thế trận lòng dân, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Bốn là, nhận thức đúng vai trò, vị trí của thành phố đối với cả nước về yêu cầu bảo đảm giữ vững ổn định chính trị trong mọi tình huống là kinh nghiệm vừa mang tính thời sự, cấp bách, vừa cơ bản lâu dài. Các cấp, các ngành và toàn xã hội phải quan tâm chăm lo, củng cố, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, khu vực phòng thủ vững chắc, xây dựng lực lượng vũ trang ngày càng vững mạnh để giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, đáp ứng mục tiêu phát triển.

Năm là, trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền, đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, một mặt phải thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, mặt khác phải luôn nhạy bén, sáng tạo, bám sát thực tiễn, phát hiện, kịp thời giải quyết những vấn đề mới nảy sinh trong điều kiện có nhiều khó khăn, biến động. Qua đó, tổng kết thực tiễn, kiến nghị Trung ương sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách hoặc cho thành phố thí điểm áp dụng cơ chế, chính sách mới để tổng kết trước khi xây dựng, hoàn thiện, áp dụng cho cả nước.

PHẦN THỨ HAI
MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ, XÂY DỰNG ĐẢNG BỘ VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ THÀNH PHỐ

Trong những năm sắp tới, trên thế giới, hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu hướng lớn, song còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, bất trắc khó lường. Xung đột sắc tộc, tôn giáo, ly khai, chiến tranh cục bộ, bạo loạn chính trị, can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn diễn ra ở nhiều nơi.

Tranh chấp lãnh thổ, biển, đảo tiếp tục diễn ra gay gắt, tính chất ngày càng phức tạp. Quá trình toàn cầu hóa kinh tế và cách mạng khoa học - công nghệ tiếp tục phát triển, cơ hội và thách thức trong quá trình cạnh tranh, hợp tác giữa các nước đan xen nhau.

Kinh tế thế giới tuy có dấu hiệu phục hồi sau khủng hoảng nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, bất ổn. Quá trình tái cấu trúc các nền kinh tế và điều chỉnh các định chế tài chính - kinh tế toàn cầu diễn ra mạnh mẽ cùng với sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ, tranh giành các nguồn tài nguyên, năng lượng, thị trường, công nghệ, nguồn vốn, nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ là thách thức to lớn đối với các nước đang phát triển. Những vấn đề cấp bách toàn cầu như an ninh tài chính, năng lượng, lương thực, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh... diễn biến phức tạp, đòi hỏi sự hợp tác rộng rãi của cộng đồng quốc tế.

Quán triệt Nghị quyết số 20-NQ/TW của Bộ Chính trị, phấn đấu xây dựng thành phố Hồ Chí Minh trở thành một thành phố xã hội chủ nghĩa văn minh, hiện đại; từ nay đến năm 2015 và phấn đấu đến năm 2020, thành phố tập trung nâng cao chất lượng tăng trưởng, xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng, phát triển bền vững, với mục tiêu tổng quát là: Tiếp tục đổi mới toàn diện và mạnh mẽ hơn nữa; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu toàn Đảng bộ; phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; năng động, sáng tạo, huy động mọi nguồn lực, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh; làm tốt vai trò đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đóng góp ngày càng lớn cho cả nước, từng bước trở thành một trung tâm công nghiệp, dịch vụ, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ của khu vực Đông Nam Á.

Cầu Thủ Thiêm nối liền quận Bình Thạnh với quận 2, đã góp phần phát triển phía Đông TPHCM. Ảnh: THÁI BẰNG

CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU

1. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) bình quân hàng năm 12%.

2. Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng của ngành dịch vụ bình quân hàng năm 13%.

3. Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng của ngành công nghiệp - xây dựng bình quân hàng năm 11%.

4. Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp bình quân hàng năm 5%.

5. Cơ cấu kinh tế năm 2015 (% trong GDP): dịch vụ: 57%, công nghiệp: 42%, nông nghiệp: 1%.

6. Tổng mức đầu tư xã hội 5 năm trên địa bàn thành phố đạt trên 1,4 triệu tỷ đồng.

7. Tốc độ tăng dân số tự nhiên bình quân hàng năm dưới 1,1%.

8. Hàng năm tạo việc làm mới trên 120.000 người.

9. Đến cuối năm 2015, tổng sản phẩm nội địa (GDP) bình quân trên đầu người đạt 4.800 USD.

10. Đến cuối năm 2015, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo nghề đạt 70% trên tổng số lao động làm việc.

11. Tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí thu nhập 12 triệu đồng/người/năm đến cuối năm 2015 cơ bản hoàn thành (còn dưới 2%).

12. Đến cuối năm 2015, đạt tỷ lệ 15 bác sĩ/10.000 dân.

13. Đến cuối năm 2015, tỷ lệ hộ dân đô thị được cấp nước sạch đạt 98%; hộ dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 100%.

14. Tổng diện tích nhà ở xây dựng mới trong 5 năm đạt 39 triệu m².

15. Đến cuối năm 2015, thu gom, lưu giữ, xử lý 100% chất thải rắn thông thường ở đô thị, chất thải rắn nguy hại, chất thải rắn y tế, nước thải công nghiệp và y tế; 100% khu công nghiệp, khu chế xuất và cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường Việt Nam.

16. Đến cuối năm 2015, hoàn thành xây dựng 25 xã nông thôn mới.

17. Hàng năm, có 75% cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh.

18. Đến cuối năm 2015, xây dựng tổ chức công đoàn trong 100% doanh nghiệp có đủ điều kiện; 70% doanh nghiệp ngoài Nhà nước có từ 500 lao động trở lên có tổ chức Đảng và tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

I- NHIỆM VỤ XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN VÀ BẢO VỆ THÀNH PHỐ

1. Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế

a. Nhiệm vụ trọng tâm là khai thác tốt nhất tiềm năng, lợi thế, tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh phù hợp với vai trò, vị trí của thành phố đối với khu vực phía Nam và cả nước, phù hợp với đặc điểm của một nền kinh tế đô thị theo hướng văn minh, hiện đại. Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) trên địa bàn hàng năm cao hơn 1,5 lần mức tăng trưởng bình quân của cả nước; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.

Tổ chức thực hiện hiệu quả đề án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025, xây dựng và triển khai cụ thể các chương trình, đề án theo từng chỉ tiêu cho kế hoạch 5 năm, hàng năm và bố trí nguồn lực bảo đảm tính khả thi cho việc thực hiện đề án. Chủ động tái cấu trúc kinh tế thành phố, chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, từ chủ yếu phát triển dựa vào tăng vốn đầu tư, sử dụng nhiều lao động giản đơn sang phát triển dựa trên yếu tố năng suất tổng hợp, tiến bộ khoa học - công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao, năng suất lao động, sản phẩm có chất lượng cao; từ sản xuất sản phẩm có giá trị gia tăng và hàm lượng khoa học - công nghệ thấp sang sản xuất sản phẩm có giá trị gia tăng và tỷ lệ nội địa hóa cao, hàm lượng khoa học - công nghệ cao để nâng cao năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu và mở rộng thị trường nội địa.

Trong lĩnh vực dịch vụ, tiếp tục thúc đẩy phát triển 9 nhóm ngành dịch vụ đã được xác định (tài chính - tín dụng - ngân hàng - bảo hiểm; thương mại; vận tải, kho bãi, dịch vụ cảng; bưu chính - viễn thông và công nghệ thông tin - truyền thông; kinh doanh tài sản - bất động sản; dịch vụ thông tin tư vấn, khoa học - công nghệ; du lịch; y tế; giáo dục - đào tạo). Trong đó, tập trung nâng cao tỷ trọng các ngành dịch vụ: thương mại quốc tế; tài chính, tín dụng ngân hàng; dịch vụ cảng - kho bãi - logistic, vận tải đa phương thức; du lịch; thị trường bất động sản; thị trường công nghệ. Bảo đảm khu vực dịch vụ có tốc độ tăng trưởng và tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu kinh tế trên địa bàn.

Trong lĩnh vực công nghiệp, tiếp tục tập trung phát triển 4 ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học - công nghệ và giá trị gia tăng cao (cơ khí; điện tử - công nghệ thông tin; hóa dược - cao su; chế biến tinh lương thực - thực phẩm) và các ngành công nghệ sinh học, công nghiệp sạch, tiết kiệm năng lượng; đồng thời lựa chọn một số công đoạn có giá trị gia tăng cao trong các ngành công nghiệp khác để đầu tư, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu các sản phẩm công nghiệp: công nghiệp chế biến sản phẩm cao cấp công nghệ cao từ cao su; công nghiệp thời trang trong ngành dệt may; các công đoạn thiết kế, tiếp thị, phân phối,… trong các ngành công nghiệp khác; phát triển công nghiệp phụ trợ. Chú trọng đầu tư hiện đại hóa ngành xây dựng sử dụng vật liệu mới, tiết kiệm năng lượng, ứng dụng công nghệ xây dựng hiện đại; nâng tốc độ tăng trưởng của ngành xây dựng cao hơn tốc độ tăng trưởng của các ngành công nghiệp. Hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng thương hiệu mạnh, có uy tín và năng lực cạnh tranh ngang tầm các nước trong khu vực.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, phát triển nông nghiệp đô thị hiện đại, hiệu quả, bền vững. Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược biển, tăng cường ứng dụng công nghệ sinh học, tập trung sản xuất cây giống, con giống có năng suất và giá trị gia tăng cao, khuyến khích nuôi trồng các sản phẩm có giá trị kinh tế cao như rau củ quả sạch, cây kiểng, hoa kiểng, cá kiểng phục vụ thị trường nội địa và xuất khẩu. Phát huy lợi thế của nông nghiệp gắn liền với đô thị lớn, với du lịch sinh thái. Chỉ đạo xây dựng mô hình xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa văn minh, giàu đẹp, kinh tế phát triển và giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, bảo vệ môi trường.

b. Khuyến khích, tạo môi trường thuận lợi và bình đẳng để phát triển các thành phần kinh tế; tiếp tục sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Nhà nước; có cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển, nâng cao chất lượng kinh tế tập thể với nòng cốt là các hợp tác xã; tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển; hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận nguồn vốn, thông tin công nghệ và thị trường; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, cải thiện môi trường thông thoáng hơn nữa để thu hút mạnh mọi nguồn lực đầu tư vào những ngành, lĩnh vực kinh tế phù hợp với chiến lược và quy hoạch phát triển thành phố.

Phát triển đồng bộ 5 loại thị trường chính yếu: tài chính, hàng hóa - dịch vụ, công nghệ, bất động sản, lao động; đổi mới, nâng cao vai trò, hiệu lực quản lý nhà nước trong cơ chế kinh tế thị trường, không ngừng đóng góp vào việc hoạch định cơ chế, chính sách chung của cả nước trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát huy vị trí, vai trò của thành phố trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

c. Huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo đảm sự phát triển bền vững. Tiếp tục nghiên cứu bổ sung cơ chế, chính sách để ưu tiên thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghệ sạch; đẩy mạnh chương trình hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ưu tiên cho những ngành, lĩnh vực dịch vụ, công nghiệp - xây dựng, nông nghiệp có lợi thế so sánh, tiềm năng phát triển, các sản phẩm ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao; hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất - kinh doanh, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ để mở rộng thị trường nội địa và xuất khẩu. Xây dựng các “cụm liên kết sản xuất” để tạo điều kiện phát triển công nghiệp phụ trợ.

Đa dạng hóa và mở rộng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng về pháp luật, kinh tế thế giới, những kiến thức cần thiết khi tham gia thị trường quốc tế để giúp các doanh nghiệp hạn chế rủi ro trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Ứng dụng công nghệ thông tin để phát triển thương mại điện tử; áp dụng các mô hình phân phối, giao dịch hiện đại vào hoạt động thương mại nhằm phát triển nhanh thị trường cho doanh nghiệp; bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Có chính sách khuyến khích phát triển mạng lưới phân phối, các loại hình thương mại theo hướng văn minh, hiện đại, góp phần phát triển sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng lưu chuyển hàng hóa. Quy hoạch phát triển trung tâm hội chợ triển lãm thương mại có tầm cỡ khu vực; trước mắt, xây dựng trung tâm hội chợ triển lãm quốc tế chuyên tổ chức các sự kiện triển lãm, hội chợ, hội nghị thương mại có quy mô lớn.

2. Phát triển đô thị bền vững

Tập trung xây dựng, tạo bước đột phá về hệ thống kết cấu hạ tầng. Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác quy hoạch, thiết kế đô thị, quản lý quy hoạch - kiến trúc, quy hoạch xây dựng nông thôn mới, quản lý đô thị gắn với quy hoạch, kế hoạch và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Thực hiện đồng bộ, hiệu quả đề án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025, đồ án điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố đến năm 2025 gắn với quy hoạch vùng thành phố Hồ Chí Minh. Hoàn thành quy hoạch chi tiết và thiết kế đô thị ở khu vực trung tâm, ở các trục giao thông mới và quy hoạch cải tạo, chỉnh trang đô thị các quận còn lại gắn kết hài hòa với quy hoạch các khu đô thị mới và quy hoạch xây dựng nông thôn mới.

Có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ các thành phần kinh tế tham gia đầu tư đẩy nhanh tiến độ xây dựng các khu đô thị mới (Thủ Thiêm, Tây Bắc và Hiệp Phước) và các chương trình đột phá liên quan kết cấu hạ tầng để giải quyết vấn đề bố trí dân cư và nhà ở cho nhân dân, giảm tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, giảm ngập nước, giảm ô nhiễm môi trường, gắn với mục tiêu kiểm soát quy mô dân số khoảng 10 triệu người vào năm 2025 và ổn định trong những năm tiếp theo, với kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, tạo tiền đề mở rộng không gian đô thị theo quy hoạch.

Nâng cao chất lượng các dịch vụ đô thị theo hướng xã hội hóa. Chủ động phối hợp với các bộ - ngành Trung ương và các địa phương liên quan có giải pháp hiệu quả để huy động các nguồn lực trong và ngoài nước đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng, trong đó tập trung hệ thống giao thông công cộng sức chở lớn, đường sắt đô thị, đồng thời phát triển đường vành đai, đường trên cao, đường cao tốc, luồng tàu đường biển, đường sông; cấp nước, thoát nước, chống ngập, xử lý chất thải và hạ tầng viễn thông,... kết nối với kết cấu hạ tầng các tỉnh trong vùng thành phố Hồ Chí Minh, vùng đồng bằng sông Cửu Long và Nam Tây Nguyên.

Quy hoạch, xây dựng phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị (giao thông, bến xe, hệ thống cảng, kho bãi, cấp nước, thoát nước, điện, bưu chính - viễn thông, công viên…) và hệ thống dịch vụ (ngân hàng, trung tâm thương mại, siêu thị, chợ, mạng lưới phân phối…) đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất - kinh doanh và cải thiện dân sinh. Ưu tiên đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn; hỗ trợ nhà ở, việc làm và các điều kiện sinh sống cho dân cư các địa bàn đô thị hóa.

Tiếp tục phát huy và mở rộng các hình thức xã hội hóa đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng. Khai thác có hiệu quả quỹ đất đô thị để tạo nguồn vốn đầu tư. Tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư ngân sách, nguồn vốn ODA và trái phiếu đô thị. Có chính sách, giải pháp hỗ trợ các thành phần kinh tế đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng, chương trình nhà ở xã hội, nhà lưu trú công nhân; công khai, minh bạch quy hoạch sử dụng đất và công bố quỹ đất, kiên quyết thu hồi các mặt bằng sử dụng không hiệu quả để phục vụ cho nhu cầu đầu tư phát triển.

Tăng cường quản lý ao, hồ, kênh, rạch phục vụ điều tiết nước và giao thông; bảo vệ môi trường sinh thái, gắn nội dung môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, các chương trình, dự án đầu tư; đẩy mạnh xã hội hóa, huy động các nguồn lực tham gia bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng và hạn chế tác hại của biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

3. Phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, bảo đảm an sinh xã hội

a. Đổi mới, phát triển, nâng cao toàn diện chất lượng giáo dục - đào tạo, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống, ý thức trách nhiệm xã hội, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp. Xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng. Bảo đảm kỷ cương trong dạy và học; phát huy vai trò gia đình phối hợp với nhà trường, xã hội để giáo dục thế hệ trẻ.

Đẩy nhanh tiến độ quy hoạch, xây dựng khu đại học Tây Bắc, Đông Bắc; đẩy mạnh xã hội hóa gắn với đầu tư xây dựng cơ sở vật chất hệ thống trường lớp theo quy hoạch và đầu tư trang thiết bị theo tiêu chuẩn quốc gia; mở rộng liên kết đào tạo, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với các cơ sở đào tạo nước ngoài trên địa bàn. Nghiên cứu xây dựng cơ chế phối hợp quản lý để phát huy vai trò trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh và hệ thống các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn.

Tiếp tục duy trì kết quả chống mù chữ; phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở và phổ cập bậc trung học; đẩy mạnh phổ cập ngoại ngữ, tin học cho học sinh phổ thông. Thực hiện có hiệu quả chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ khoa học - công nghệ, doanh nhân và lao động kỹ thuật; đầu tư xây dựng và trang bị đúng mức để phát triển hệ thống giáo dục chuyên nghiệp, gắn nội dung đào tạo của trường chuyên nghiệp với doanh nghiệp, bảo đảm sự cân đối giữa đào tạo và sử dụng, nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo, đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao của các ngành, lĩnh vực trọng yếu và đào tạo nghề cho nhân dân các vùng đô thị hóa và đáp ứng nhu cầu chuyển đổi ngành nghề địa bàn nông thôn.

Hoàn chỉnh quy hoạch, có cơ chế phù hợp để nâng cao hiệu quả thực hiện chủ trương xã hội hóa lĩnh vực giáo dục - đào tạo theo hướng: huy động các nguồn lực xã hội để phát triển giáo dục - đào tạo; phát huy vai trò giám sát của cộng đồng đối với các cơ sở giáo dục - đào tạo; khuyến khích các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập.

Chăm lo cơ sở vật chất và giáo dục thế hệ trẻ là mối quan tâm hàng đầu của các cấp chính quyền TPHCM. Trong ảnh: Niềm vui của các em học sinh Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, quận 4 trong ngôi trường mới. Ảnh: MAI HẢI

b. Đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý, tổ chức, hoạt động khoa học - công nghệ theo thẩm quyền, xem đây là khâu đột phá để phát huy sự năng động, sáng tạo của lực lượng trí thức, tạo sự gắn kết giữa các cơ sở nghiên cứu, đào tạo và sản xuất - kinh doanh, đồng thời thu hút các nguồn lực trong và ngoài nước tham gia. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn làm cơ sở xây dựng các chính sách phát triển, quản lý đô thị, xây dựng văn hóa và giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội. Tăng cường nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Nâng cao trình độ khoa học - công nghệ và năng lực sáng tạo nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và kinh tế thành phố đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế. Đổi mới công nghệ và phát triển công nghiệp công nghệ cao trong các doanh nghiệp, lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hoạt động khoa học - công nghệ, xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm của hoạt động kinh tế.

Thực hiện đồng bộ 3 nhiệm vụ chủ yếu để phát triển khoa học - công nghệ: nâng cao trình độ nghiên cứu và năng lực sáng tạo khoa học - công nghệ; đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý; đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ cao. Tăng đầu tư ngân sách hàng năm để phát triển khoa học - công nghệ; trong đó, tập trung đầu tư đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng những trung tâm khoa học công nghệ tiêu biểu. Hình thành và khai thác có hiệu quả các quỹ phát triển khoa học - công nghệ, vườn ươm doanh nghiệp khoa học - công nghệ để thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp công nghệ cao, công nghệ thông tin, vật liệu mới, công nghệ sinh học và tự động hóa; chủ động tham gia các chương trình nghiên cứu quốc tế về ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; phát triển và ứng dụng công nghệ sạch, năng lượng tái tạo, năng lượng sinh học.

Xây dựng đề án chuyển giao công nghệ từ nước ngoài thông qua hợp tác quốc tế về khoa học - công nghệ. Tăng cường nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp, đẩy mạnh đề án đổi mới công nghệ công nghiệp. Có chính sách bồi dưỡng, thu hút, sử dụng và trọng dụng các chuyên gia khoa học - công nghệ trong và ngoài nước theo hướng tạo môi trường thuận lợi phát huy năng lực sáng tạo của đội ngũ tri thức; phát huy vai trò của Liên hiệp Các hội khoa học - kỹ thuật, Liên hiệp Các hội văn học - nghệ thuật thành phố trong việc tập hợp lực lượng, nghiên cứu, tư vấn và phản biện, góp phần xây dựng các chủ trương, chính sách phát triển và quản lý xã hội, xây dựng văn hóa và con người thành phố.

c. Phát triển văn hóa theo hướng văn minh, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và các giá trị tinh thần mang nét đặc trưng của nhân dân thành phố; kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội, với trọng tâm là đưa cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở” ngày càng đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả; đầu tư xây dựng Nhà hát giao hưởng - nhạc vũ kịch, Bảo tàng thành phố, Nhà thiếu nhi thành phố (cơ sở 2) theo quy hoạch, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế, công trình văn hóa; định hướng, hỗ trợ sáng tác và đưa ra công chúng các tác phẩm văn học - nghệ thuật tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giàu phẩm chất nhân văn, thể hiện chân thật, sâu sắc lịch sử dân tộc, công cuộc đổi mới đất nước, cổ vũ cái đúng, cái đẹp, cái tích cực, phê phán cái xấu, tiêu cực; xây dựng và phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ đáp ứng yêu cầu phát triển, nhằm không ngừng nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân, từng bước giảm dần sự cách biệt về mức hưởng thụ văn hóa giữa đô thị và nông thôn.

Tiếp tục hoàn thiện quy hoạch báo chí, xuất bản; nâng cao chất lượng công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục định hướng dư luận xã hội theo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Mở rộng, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thông tin đối ngoại, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, báo chí, xuất bản; tăng cường quản lý, đấu tranh có hiệu quả lối sống thực dụng, bạo lực, trái đạo lý; bồi dưỡng, nâng cao sức đề kháng của công chúng, nhất là thế hệ trẻ đối với các sản phẩm phi văn hóa.

Đẩy mạnh thực hiện, nâng cao hiệu quả quy hoạch phát triển ngành y tế, các chương trình quốc gia về chăm sóc sức khỏe, các chương trình y tế chuyên sâu, y tế dự phòng; phát triển mạnh ngành dược và đông y, y tế học đường; nâng cao năng lực giám sát, phát hiện và khống chế dịch bệnh nguy hiểm, tăng cường các biện pháp vệ sinh phòng bệnh, kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm.

Tiếp tục củng cố, hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, đẩy mạnh xã hội hóa để chăm lo sức khỏe nhân dân, đặc biệt đối với người nghèo; tập trung xây dựng, phát triển Khu y tế kỹ thuật cao, các trung tâm y tế chuyên sâu và một số bệnh viện tại các cửa ngõ thành phố; từng bước hình thành hệ thống khám chữa bệnh theo mô hình liên kết giữa các bệnh viện, trung tâm chuyên khoa với các bệnh viện quận - huyện, y tế tư nhân.

Mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự đầu tư, hỗ trợ kinh phí, chuyển giao khoa học - công nghệ và kinh nghiệm quản lý của các nước, các tổ chức quốc tế để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Thực hiện nghiêm chính sách, pháp luật về dân số.

Tăng cường củng cố, kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý và các liên đoàn thể thao; tập trung hoàn thành việc xây dựng Khu liên hợp thể thao Rạch Chiếc để tổ chức đào tạo, thi đấu quốc tế ngang tầm với các nước trong khu vực; phát hiện, có chính sách thu hút đội ngũ huấn luyện viên giỏi, thu hút, phát hiện, đào tạo vận động viên có thành tích cao, triển vọng; chú trọng đầu tư phát triển thể thao học đường, thể thao quần chúng; đẩy mạnh phong trào luyện tập thể dục - thể thao thường xuyên trong cộng đồng để góp phần nâng cao thể chất của nhân dân.

Có cơ chế tạo vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, nâng cao hiệu quả thực hiện chủ trương xã hội hóa các lĩnh vực văn hóa, y tế, thể thao; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên lĩnh vực này để huy động các nguồn lực chăm lo cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân.

d. Giải quyết tốt, kịp thời các vấn đề xã hội bức xúc, nhất là lao động, việc làm, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng sống của nhân dân. Tập trung thực hiện tốt các chính sách ưu đãi người có công và các đối tượng bảo trợ xã hội, vận động sự tham gia của toàn xã hội để nâng cao đời sống vật chất, văn hóa đối với người có công và người thuộc diện chính sách.

Đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức thực hiện chương trình giảm hộ nghèo, nâng hộ khá theo hướng phát huy nội lực, kết hợp sự trợ giúp của cộng đồng; tăng khả năng tiếp cận của người nghèo đối với các dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở,…), góp phần kéo giảm chênh lệch về mức sống giữa các tầng lớp dân cư, giữa nội thành và ngoại thành.

Kiểm soát chặt chẽ, tiến tới ngăn chặn, đẩy lùi số người nghiện ma túy trên địa bàn, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các mô hình cai nghiện phục hồi gắn với dạy nghề, tạo việc làm để thực hiện tốt chương trình tái hòa nhập cộng đồng cho người sau cai nghiện.

Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước về lao động (dự báo cung và cầu trên thị trường lao động; đào tạo nguồn nhân lực,...); có chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư mở rộng quy mô sản xuất - kinh doanh theo quy hoạch để giải quyết việc làm cho người lao động; phát triển và quản lý tốt các trung tâm giới thiệu việc làm và hệ thống thông tin thị trường lao động, hình thành sàn giao dịch lao động; đa dạng hóa các mô hình đầu tư đào tạo nghề, liên kết giữa các trường, trung tâm dạy nghề và doanh nghiệp trong đào tạo nhân lực. Mở rộng hợp tác quốc tế, nâng cao hiệu quả chương trình xuất khẩu lao động và chuyên gia.

4. Giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng - an ninh, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại

Giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội trong mọi tình huống. Tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các nghị quyết về nhiệm vụ quốc phòng - an ninh trong tình hình mới; chủ động đấu tranh đập tan mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, không để đột biến bất ngờ; huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, gắn nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm an ninh, quốc phòng, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững mạnh trong thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc.

Xây dựng lực lượng Quân đội, Công an, Biên phòng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo đảm sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống. Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, đầu tư trang thiết bị hiện đại cho lực lượng Cảnh sát phòng cháy - chữa cháy, cứu hộ, cứu nạn, gắn với giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân. Thực hiện tốt chính sách tôn giáo, dân tộc, giải quyết kịp thời, có hiệu quả các vấn đề liên quan đến an ninh - chính trị, các vụ khiếu kiện, tranh chấp lao động tập thể; đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, chương trình mục tiêu 3 giảm, tăng cường đấu tranh chuyển hóa địa bàn, kéo giảm tội phạm và tệ nạn xã hội; mở rộng quan hệ hợp tác với các nước để trao đổi thông tin về an ninh chính trị, phòng chống tội phạm khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia.

Nâng cao hiệu quả thực hiện các nghị quyết về chiến lược cải cách tư pháp; tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ, đầu tư cơ sở vật chất và chăm lo đời sống đội ngũ cán bộ các cơ quan tư pháp; thực hiện tốt thẩm quyền được tăng thêm của cấp quận, huyện; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; khắc phục oan, sai, bỏ lọt tội phạm; xây dựng, củng cố các chế định bổ trợ tư pháp, đặc biệt là giám định tư pháp.

Tăng cường công tác đối ngoại đảng, đối ngoại nhà nước, đối ngoại nhân dân, đối ngoại kinh tế, văn hóa, xã hội theo đúng đường lối đối ngoại của Đảng; thực hiện tốt các nội dung hợp tác đã ký kết với địa phương các nước, nhất là các nước láng giềng và các đối tác quan trọng; mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế - văn hóa với một số địa phương các nước, chủ động ngăn ngừa, giảm thiểu các tác động tiêu cực phát sinh trong quá trình hội nhập quốc tế. Tăng cường, đổi mới phương thức hoạt động tuyên truyền, thông tin đối ngoại nhằm quảng bá hình ảnh Việt Nam và thành phố đối với bạn bè quốc tế và kiều bào ở nước ngoài.

5. Sáu chương trình đột phá

Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đã xác định, cần tiếp tục hoàn thành 5 chương trình, công trình mang tính đòn bẩy đã đề ra; đồng thời tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, nguồn lực thực hiện 6 chương trình đột phá về:

(1) Chương trình giảm ùn tắc giao thông tập trung đầu tư xây dựng, từng bước hoàn chỉnh hệ thống giao thông, hình thành mạng lưới giao thông đồng bộ, kết nối vùng thành phố Hồ Chí Minh; phát triển nhanh vận tải hành khách công cộng, trong đó, ưu tiên giao thông công cộng sức chở lớn; nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; kéo giảm tai nạn giao thông và từng bước cải thiện tình trạng ùn tắc giao thông.

(2) Chương trình giảm ngập nước tập trung giải quyết cơ bản tình trạng ngập nước tại khu vực trung tâm thành phố (khoảng 100 km²); kiểm soát, ngăn chặn không để phát sinh điểm ngập mới trên 5 vùng còn lại (khoảng 580 km²); giai đoạn 2016 - 2020, giải quyết cơ bản ngập nước do mưa tại 5 lưu vực ngoại vi và phần diện tích còn lại của thành phố.

(3) Chương trình giảm ô nhiễm môi trường tập trung kiểm soát, ngăn chặn và đẩy lùi mức độ gia tăng ô nhiễm không khí, tiếng ồn, nước mặt, nước ngầm, chất thải rắn thông thường, chất thải nguy hại; khắc phục những nơi bị ô nhiễm nghiêm trọng; cải thiện mảng xanh đô thị, tăng cường cây xanh, vườn hoa, thảm cỏ, tiểu đảo, công viên,… góp phần xây dựng thành phố xanh, sạch, có môi trường sống tốt, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển đô thị; khôi phục các hệ sinh thái, phục hồi đa dạng sinh học, đặc biệt bảo vệ, phát triển Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ; nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của cộng đồng.

(4) Chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tập trung xây dựng nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế; trong đó, tập trung nguồn nhân lực cho những ngành có hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng cao, bảo đảm nhu cầu lao động chất lượng cao cho 9 ngành dịch vụ, 4 ngành công nghiệp trọng yếu; nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu lao động trong nước và xuất khẩu lao động chất lượng cao.

(5) Chương trình cải cách hành chính gắn với mục tiêu là xây dựng mô hình chính quyền đô thị, xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, bộ máy quản lý nhà nước tinh gọn; đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển thành phố và hội nhập kinh tế quốc tế.

(6) Chương trình hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế thành phố, tập trung các nguồn lực đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nhanh các ngành, sản phẩm công nghiệp, dịch vụ có hàm lượng khoa học - công nghệ cao, giá trị gia tăng cao, có hiệu quả và sức cạnh tranh cao; phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái ở vùng ven đô thị, đi đầu cả nước trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, có chất lượng, hiệu quả cao, bền vững.

II. NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU TOÀN ĐẢNG BỘ; TĂNG CƯỜNG HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CỦA CHÍNH QUYỀN; PHÁT HUY DÂN CHỦ VÀ SỨC MẠNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC

1. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên

Tăng cường lãnh đạo thực hiện có hiệu quả công tác chính trị, tư tưởng trong giai đoạn mới, tạo sự thống nhất về tư tưởng và hành động trong Đảng bộ và sự đồng thuận trong nhân dân để thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng; thường xuyên giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng của dân tộc, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phát huy tinh thần yêu nước, xây dựng niềm tin vững chắc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước.

Tập trung đổi mới nội dung, phương thức công tác tư tưởng, đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”; đề cao gương điển hình tiên tiến, người tốt việc tốt, “nhân cái đẹp, dẹp cái xấu; lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”. Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực tham mưu và tác nghiệp đạt hiệu quả cao. Thực hiện toàn Đảng bộ và hệ thống chính trị làm công tác tư tưởng, nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục trên mặt trận tư tưởng - văn hóa của thành phố.

Đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đi vào chiều sâu, tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng trong Đảng bộ và nhân dân theo phương châm “tích cực học tập, nỗ lực làm theo”. Đưa hoạt động học tập, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành nền nếp sinh hoạt thường xuyên của chi bộ, tổ chức Đảng.

Chú trọng xây dựng, phát hiện, nhân rộng các điển hình tiên tiến trong thực hiện cuộc vận động, phấn đấu ngày càng có thêm nhiều điển hình noi gương và nêu gương, nhất là trong cán bộ chủ chốt, người đứng đầu đơn vị, địa phương, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, góp phần xây dựng nền tảng văn hóa, đời sống tinh thần xã hội lành mạnh.

Đổi mới mô hình, phương thức hoạt động của tổ chức Đảng cấp trên cơ sở theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa X phù hợp với thực tiễn thành phố. Thực hiện tốt các chủ trương, giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; tập trung chỉ đạo củng cố các tổ chức Đảng yếu kém, kịp thời kiện toàn cấp ủy và tăng cường cán bộ ở những nơi có nhiều khó khăn, nội bộ mất đoàn kết.

Nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, chi bộ, phát huy và mở rộng dân chủ trong sinh hoạt Đảng gắn với nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đoàn kết, thống nhất trong tập thể cấp ủy và tổ chức Đảng. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cấp ủy viên, tập trung nâng cao năng lực bí thư cấp ủy cơ sở; đẩy mạnh công tác xây dựng, củng cố tổ chức Đảng, đoàn thể trong các loại hình doanh nghiệp.

Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, đào tạo, đánh giá, bố trí, luân chuyển cán bộ, chú trọng cán bộ nữ, cán bộ trẻ tuổi. Chỉ đạo thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ đầu nhiệm kỳ và rà soát, bổ sung quy hoạch cán bộ dự bị hàng năm. Có kế hoạch đào tạo, đào tạo lại, chú trọng các lớp đào tạo ngắn hạn để bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ, kỹ năng, kinh nghiệm xử lý tình huống từ thực tiễn cho đội ngũ cán bộ, chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý xuất thân từ công nhân gắn với chức danh và quy hoạch, thực hiện hiệu quả chương trình thạc sĩ, tiến sĩ, chủ động chuẩn bị lực lượng cán bộ lãnh đạo, quản lý cho các nhiệm kỳ sau.

Đẩy mạnh công tác luân chuyển cán bộ, mở rộng diện bố trí cán bộ chủ chốt không phải là người địa phương; thực hiện tốt chủ trương tạo nguồn cán bộ dài hạn, tăng cường cán bộ trẻ tuổi được đào tạo chính quy về công tác ở phường - xã, thị trấn, doanh nghiệp. Xây dựng và thực hiện tốt chính sách thu hút, sử dụng, trọng dụng nhân tài. Rà soát, bổ sung quy chế quản lý cán bộ, công chức, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, thẩm quyền trong công tác quản lý cán bộ.

Xây dựng cụ thể quy định về trách nhiệm, quyền hạn của tổ chức Đảng và người đứng đầu trong công tác đánh giá, bổ nhiệm và bố trí cán bộ trên cơ sở hiệu quả công tác và tín nhiệm của nhân dân; kịp thời thay thế cán bộ yếu kém năng lực, không hoàn thành nhiệm vụ, uy tín giảm sút.

Tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan và năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức - cán bộ. Tăng cường công tác bảo vệ Đảng, thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ và quản lý cán bộ, đảng viên. Thực hiện tốt công tác phát triển Đảng, gắn công tác kết nạp Đảng với công tác quy hoạch và đào tạo cán bộ.

Tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành Điều lệ, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, việc phòng, chống tham nhũng, lãng phí và thực hiện nhiệm vụ của các tổ chức Đảng, đảng viên ở các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị, đặc biệt chú trọng kiểm tra các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực (xây dựng, nhà đất, hải quan, thuế, dự án đầu tư, doanh nghiệp, các cơ quan bảo vệ pháp luật,…); kịp thời phát hiện và chủ động khắc phục sớm những thiếu sót, khuyết điểm, góp phần phòng ngừa sai phạm, xử lý nghiêm minh, kịp thời các sai phạm.

Mở rộng dân chủ trong sinh hoạt Đảng, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, sự đoàn kết, thống nhất trong các cấp ủy và trong Đảng bộ; phát huy tính tiên phong gương mẫu của đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ được giao; tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào dân để xây dựng Đảng. Định kỳ sơ kết, tổng kết thực tiễn để kịp thời khắc phục yếu kém, khuyết điểm, đề ra chủ trương, chính sách và giải pháp thiết thực trong lãnh đạo, chỉ đạo.

Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa X. Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong lãnh đạo chính quyền, mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội. Cấp ủy Đảng, bí thư cấp ủy không bao biện, làm thay hoặc buông lỏng trong lãnh đạo, chỉ đạo. Tăng cường chế độ lãnh đạo tập thể đi đôi với phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo và trách nhiệm cá nhân. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức Đảng, cấp ủy viên, đảng viên công tác ở các cơ quan Nhà nước trong việc nghiên cứu, tham mưu đề xuất các chính sách, giải pháp lãnh đạo của Đảng bộ. Sơ kết rút kinh nghiệm chỉ đạo thực hiện điểm các đề án về tổ chức, cán bộ trong Đảng bộ và hệ thống chính trị. Cải cách thủ tục hành chính trong Đảng, khắc phục tình trạng thủ tục rườm rà trong công tác tổ chức, cán bộ, quản lý cán bộ, đảng viên.

2. Nâng cao chất lượng hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố, Hội đồng nhân dân thành phố, Hội đồng nhân dân xã và Ủy ban nhân dân các cấp; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy chính quyền

Phát huy vai trò Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố và Hội đồng nhân dân thành phố, Hội đồng nhân dân xã; thực hiện tốt chức năng giám sát, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những hành vi vi phạm pháp luật. Nghiên cứu, kiến nghị Trung ương bổ sung nhiệm vụ, thẩm quyền và tăng thêm số lượng, cơ cấu đại biểu chuyên trách của Hội đồng nhân dân thành phố để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện không tổ chức hội đồng nhân dân quận - huyện, phường và thực hiện mô hình xây dựng chính quyền đô thị.

Tiếp tục sắp xếp, kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước theo hướng tinh gọn, chuẩn hóa các chức danh cán bộ quản lý từ thành phố đến cơ sở phù hợp với xã hội đô thị. Đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu; thường xuyên giám sát, tổ chức thanh tra công vụ, kịp thời chấn chỉnh, xử lý các sai phạm của cán bộ, công chức các cơ quan công quyền. Đẩy mạnh cải cách hành chính, với trọng tâm thực hiện đồng bộ 4 lĩnh vực: thủ tục hành chính, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ - công chức - viên chức và tài chính công theo hướng hiện đại hóa nền hành chính, tinh gọn, hiệu quả; lấy việc công khai minh bạch các quy định của Nhà nước và bố trí cán bộ, công chức, viên chức đủ phẩm chất, năng lực theo yêu cầu công việc làm khâu đột phá trong cải cách hành chính; đồng thời gắn với đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý Nhà nước, từng bước nâng cao chất lượng phục vụ và dịch vụ công trực tuyến, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO: 2000 vào hoạt động các cơ quan hành chính.

Trên cơ sở các quy định pháp luật hiện hành, bổ sung quyền hạn và trách nhiệm quản lý nhà nước của các cơ quan tham mưu trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố; chế độ trách nhiệm của người đứng đầu và vai trò tập thể; giảm hội họp, tăng cường công tác kiểm tra và chỉ đạo cơ sở; mở rộng phân cấp cho chính quyền quận, huyện, nhằm nâng cao quyền hạn và trách nhiệm quản lý trên địa bàn với yêu cầu và nội dung khác nhau giữa các quận trung tâm, các quận đang đô thị hóa và các huyện; nâng cao chất lượng cán bộ cấp xã và các phường đô thị hóa, nhằm từng bước hình thành mô hình chính quyền đô thị.

Tiếp tục xã hội hóa các dịch vụ hành chính liên quan đến lĩnh vực quản lý đô thị, nhà đất, xây dựng; thi hành án dân sự…; đồng thời tăng cường chức năng kiểm tra, giám sát của các cơ quan hành chính có liên quan. Củng cố và phát triển các đơn vị sự nghiệp cung cấp dịch vụ công, hỗ trợ sản xuất - kinh doanh, phát triển nông thôn; phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp trong quản lý và phát triển các lĩnh vực có liên quan.

Nghiên cứu, kiến nghị Trung ương mở rộng phân cấp quản lý cho thành phố để đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của chính quyền địa phương phù hợp với quy mô và đặc thù của đô thị lớn; chủ động phối hợp với bộ, ngành Trung ương có liên quan hỗ trợ thành phố thực hiện có hiệu quả các nội dung đề ra trong Kết luận số 15-KL/TW của Bộ Chính trị khóa X về sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về phương hướng, nhiệm vụ phát triển thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 và thí điểm mô hình chính quyền đô thị và Nghị quyết số 53-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh vùng Đông Nam bộ và vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam. Xây dựng đề án, kiến nghị Trung ương cho thực hiện điểm tổ chức sở theo ngành dọc đối với một số ngành mang tính nghiệp vụ, kỹ thuật cao; trước mắt, thực hiện điểm ngành y tế và giáo dục.

Tập trung thực hiện quyết liệt công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát phòng, chống, đẩy lùi quan liêu, tham nhũng, lãng phí, đề cao trách nhiệm của các cấp ủy, người đứng đầu; hoàn thiện cơ chế, chính sách trên một số lĩnh vực có khả năng nảy sinh tham nhũng (quản lý sử dụng đất đai, thuế, đầu tư, các dự án đầu tư có yếu tố nước ngoài,…).

3. Phát huy dân chủ và sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; chăm lo xây dựng Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội vững mạnh

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của hệ thống chính trị trong phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, lấy mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng, đoàn kết, tập hợp các tầng lớp nhân dân xây dựng, bảo vệ thành phố và đất nước. Đề cao ý thức trách nhiệm của các tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận và đoàn thể chính trị - xã hội trong thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác vận động nhân dân, về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở. Giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần thái độ phục vụ nhân dân; công chức, viên chức đăng ký thực hiện phương châm “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân”; “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin” gắn với Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Tiếp tục rà soát, bổ sung, điều chỉnh, xây dựng cơ chế, chính sách có liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của công dân; thực hiện tốt công tác tiếp công dân, giải quyết kịp thời, thỏa đáng, đúng pháp luật các khiếu nại của nhân dân.

Tiếp tục củng cố tổ chức, tăng cường công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng công tác vận động nhân dân, chăm lo đời sống cho cán bộ làm công tác dân vận, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội, tạo điều kiện về kinh phí, phương tiện cho các đoàn thể hoạt động; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội, khắc phục xu hướng “hành chính hóa” và bệnh thành tích trong hoạt động, nâng cao tính chủ động, sáng tạo của Mặt trận, đoàn thể các cấp, nhất là cơ sở.

Nâng cao chất lượng các cuộc vận động, các phong trào hành động cách mạng, phong trào thi đua yêu nước của nhân dân, với trọng tâm là các Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở”; “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây dựng nếp sống văn minh đô thị; nhân rộng các gương điển hình “Dân vận khéo”, “người tốt, việc tốt”; mở rộng các cuộc vận động chăm lo cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo.

Thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở; phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội nhằm tăng sự đồng thuận trong xã hội, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nhân dân phát huy quyền làm chủ theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong giám sát, đóng góp xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; củng cố, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, động viên khơi dậy mọi nguồn lực của các tầng lớp nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của thành phố.

Tăng cường xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh, có giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ ngày càng cao, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát huy vai trò nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; chăm lo nâng cao đời sống vật chất, văn hóa cho công nhân, người lao động.

Nâng cao trình độ và vị thế chính trị của giai cấp nông dân - chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp đô thị, nông thôn mới, tạo điều kiện để nông dân tham gia đóng góp và hưởng lợi nhiều hơn từ những thành tựu trong quá trình đô thị hóa; có chính sách chăm lo, cải thiện, nâng cao đời sống nông dân, tăng cường công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm, chuyển giao ứng dụng khoa học - công nghệ cho nông dân trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp.

Xây dựng đội ngũ trí thức ngang tầm với trình độ của trí thức các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới; có chính sách thu hút, trọng dụng, đãi ngộ trí thức, nhân tài, tạo môi trường thuận lợi để đội ngũ trí thức sáng tạo trong hoạt động khoa học, động viên, phát huy tiềm năng đội ngũ trí thức trong nước và nước ngoài tham gia thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố.

Chăm lo xây dựng thế hệ trẻ giàu lòng yêu nước, kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức cách mạng, ý thức chấp hành pháp luật, lối sống lành mạnh, vì cộng đồng; phát triển về thể chất, tri thức, kỹ năng và tác phong công nghiệp, có năng lực bản lĩnh trong hội nhập quốc tế, hình thành lớp thanh niên ưu tú trên mọi lĩnh vực kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Quan tâm nâng cao trình độ và đời sống vật chất, văn hóa của phụ nữ; thực hiện tốt mục tiêu bình đẳng giới; xây dựng người phụ nữ yêu nước, năng động, sáng tạo, trung hậu, đảm đang, đề cao vai trò người phụ nữ trong phong trào xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.

Phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” của cựu chiến binh, vai trò của cán bộ hưu trí trong giáo dục truyền thống, lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ, tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, chăm lo cải thiện đời sống cho cựu chiến binh, cán bộ hưu trí. Đề cao vai trò của hội người cao tuổi, vai trò cộng đồng và gia đình trong việc chăm sóc, phụng dưỡng người cao tuổi sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc; đồng thời phát huy vai trò của người cao tuổi trong việc giáo dục con cháu, xây dựng gia đình “Ông bà, cha mẹ mẫu mực, cháu con hiếu thảo”.

Động viên, khơi dậy tiềm năng, phát huy thế mạnh, ý thức trách nhiệm cộng đồng của doanh nhân trong quá trình thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng đầu tư trong nước và nước ngoài để phát triển của thành phố. Chú trọng phát huy tiềm năng, thế mạnh của đồng bào các dân tộc trong quá trình xây dựng, bảo vệ thành phố; chăm lo đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ người dân tộc, quan tâm nâng cao trình độ dân trí, cải thiện đời sống đồng bào các dân tộc.

Động viên đồng bào các tôn giáo sống tốt đời, đẹp đạo, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo và đồng bào có đạo sinh hoạt theo đúng quy định pháp luật. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, động viên kiều bào hướng về Tổ quốc, tích cực tham gia xây dựng thành phố và đất nước.

* * *

Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ IX ý thức sâu sắc trách nhiệm đối với nhân dân thành phố và cả nước. Với truyền thống yêu nước, cách mạng, đoàn kết, năng động, sáng tạo, Đảng bộ thành phố quyết tâm khắc phục yếu kém, khuyết điểm, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách, đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới, phấn đấu hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ IX đề ra, “vì cả nước, cùng cả nước”, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, xứng đáng với thành phố mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh - Thành phố Anh hùng.

BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ


(1) Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VIII: tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm 12% trở lên.

(2) Tốc độ tăng trưởng kinh tế thành phố năm 2006: 12,2%; năm 2007: 12,6%; năm 2008: 10,7%; năm 2009: 8,5%; năm 2010: ước trên 11%.

(3) Tỷ trọng các ngành dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp trong GDP thành phố: năm 2005 là 50,6% - 48,2% - 1,2%; dự kiến năm 2010 là 54,5% - 44,3% - 1,2%.

(4) Năm 2005: 53%;, năm 2010: 61%.

(5) Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký 5 năm 2006 - 2010 gấp 5,2 lần 5 năm 2001 - 2005.

(6) Tổng vốn đầu tư xã hội 5 năm 2006 - 2010 của thành phố gấp 3 lần giai đoạn 2001 - 2005, tăng bình quân 24,6%/năm.

(7) Thu ngân sách nhà nước 5 năm 2006 - 2010 gấp 2,5 lần giai đoạn 2001 - 2005.

(8) Trong điều kiện kinh tế thế giới suy thoái, xuất khẩu trừ dầu thô tăng bình quân 15,7%/năm, vượt kế hoạch (15%/năm).

In trang Về đầu trang