Ngành cơ khí trong tiến trình phát triển và hội nhập: Nguy cơ thành... đại công trường!

Những năm gần đây ngành cơ khí (CK) đã có nhiều chuyển biến tích cực, tăng trưởng bình quân đạt 41%/ năm, nhiều DN đã có “của ăn của để”. Tuy nhiên, các chuyên gia và doanh nghiệp CK cho rằng, hiện nay sản phẩm CK mới ở mức “bằng bằng”, chưa chiếm được nhiều thị phần trong nước, xuất khẩu còn thấp… Nếu không có những chính sách kịp thời, tương lai Việt Nam sẽ trở thành “đại công trường” gia công CK cho các nước.Khởi sắc bề ngoài
Ngành cơ khí trong tiến trình phát triển và hội nhập: Nguy cơ thành... đại công trường!

Những năm gần đây ngành cơ khí (CK) đã có nhiều chuyển biến tích cực, tăng trưởng bình quân đạt 41%/ năm, nhiều DN đã có “của ăn của để”. Tuy nhiên, các chuyên gia và doanh nghiệp CK cho rằng, hiện nay sản phẩm CK mới ở mức “bằng bằng”, chưa chiếm được nhiều thị phần trong nước, xuất khẩu còn thấp… Nếu không có những chính sách kịp thời, tương lai Việt Nam sẽ trở thành “đại công trường” gia công CK cho các nước.

Khởi sắc bề ngoài

Theo Quyết định số 186/2002/QĐ-TTg của Chính phủ thì mục tiêu Chương trình CK trọng điểm đến năm 2010 và tầm nhìn tới 2020 là tập trung vào 8 nhóm chuyên ngành CK lớn như máy động lực, máy kéo và máy nông nghiệp, máy công cụ, thiết bị toàn bộ, cơ khí xây dựng, CK tàu thủy, CK ô tô và cơ khí giao thông vận tải, thiết bị điện…

Ngành cơ khí trong tiến trình phát triển và hội nhập: Nguy cơ thành... đại công trường! ảnh 1

Dây chuyền sản xuất, sơn động cơ tại Công ty Chế tạo động cơ Vinappo. Ảnh: ĐỨC THÀNH

Từ khi Chương trình CK được triển khai đến nay cũng ngót ngét 5 năm với nhiều khởi sắc, đặc biệt là những nhóm ngành được quy hoạch. Theo Bộ Công thương, hiện nay hầu hết những ngành CK trọng điểm đều phát triển đáng kể như đóng được xe buýt, tải nhẹ, tải nặng và tàu trọng tải 53.000 tấn đến 100.000 tấn…

CK chế tạo máy công cụ cũng đã số hóa được các máy tiện vạn năng cỡ vừa và lớn, sản xuất các máy cắt thép theo chương trình tự động. CK phục vụ nông nhiệp đã sản xuất được nhiều thiết bị phục vụ sản xuất và chế biến nông sản thực phẩm; sản xuất máy động lực cũng có nhiều tiến bộ, có thể sản xuất 30.000 chiếc/năm, đáp ứng 30% nhu cầu trong nước.

Ngành CK chế tạo thiết bị toàn bộ đã tự nghiên cứu, thiết kế chế tạo các thiết bị thủy công phục vụ các dự án thủy điện, đặc biệt cho dự án thủy điện Sơn La. Bên cạnh, nhiều doanh nghiệp còn tham gia chế tạo các thiết bị cho các dự án nhiệt điện, xi măng, bột giấy, bia rượu…

Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp CK đã bắt đầu “ăn nên làm ra”, có doanh thu và tiến tới đầu tư vốn cho sản xuất. Đơn cử, Công ty cổ phần CK và Xây lắp Công nghiệp (Imeco) với sự phấn đấu và hỗ trợ chính sách từ phía Nhà nước đến nay đã vực dậy, vượt qua giai đoạn khó khăn, chuyên tâm vào sản xuất CK.

Nếu năm 1997, doanh thu công ty chỉ đạt 30 tỷ/năm thì nay đã tăng lên trên 100 tỷ đồng/ năm với trên 500 công nhân. Công ty cũng đã đầu tư hàng chục tỷ đồng vào dây chuyền sản xuất như máy cắt, hàn, gấp, lùa… tự động. Tương tự, Tổng Công ty CK GTVT Sài Gòn (Samco), từ năm 2002 chỉ sản xuất xe tải đóng thùng và xe chuyên dùng, đến nay đã là một trong những đơn vị hàng đầu sản xuất xe buýt, xe khách… với tỷ lệ nội đại hóa trên 20%, doanh thu hàng năm đạt gần 100 tỷ đồng.

Thiếu bền vững chiều sâu

Đánh giá về sự phát triển của CK trong nước thời gian qua và nhìn về tương lai, ông Bùi Quang Hải, quyền Chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật TPHCM cho rằng, mặc dù thời gian qua ngành CK có những bước phát triển khả quan, nhưng cũng mới dừng lại ở phần “ngọn”. Chưa có lĩnh vực CK nào được đầu tư đúng mức để hướng đến một sản phẩm mang thương hiệu riêng, chủ yếu là gia công những công đoạn thông thường.

Cụ thể, hai lĩnh vực đóng tàu và ô tô tuy đạt mức tăng trưởng cao nhưng chỉ dừng lại ở khâu đóng khung và các phần nội tất đơn giản. Còn các máy móc và những thiết bị phức tạp đều phải nhập ngoại. “Hệ thống máy móc chiếm trên dưới 50% của sản phẩm, trong khi CK Việt Nam hầu như vẫn chưa làm được. Vậy thì gia công những công đoạn thô sơ như gò, hàn lắp ghép, sau khi trừ hết chi phí một DNCK lợi nhuận tối đa cũng chỉ đạt 2-5%”, ông Hải phân tích.

Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp CK Việt Nam (VAMI) Nguyễn Văn Thụ cũng cho hay, mỗi năm Việt Nam cần nhập khẩu một lượng máy móc thiết bị phục vụ phát triển kinh tế khoảng 7-8 tỷ USD. Đây là bài toán khó đối với CK trong nước vốn phát triển từ một nền tảng thấp. Sản phẩm CK nước ta hiện nay chủ yếu là hàng gia công, giá trị kinh tế thấp, công nghệ, thiết bị lạc hậu. Chưa hình thành một số ngành mũi nhọn đủ sức chế tạo dây chuyền thiết bị đồng bộ. Phần lớn thiết bị, máy móc, nguyên liệu phải nhập khẩu, công nghiệp phụ trợ yếu kém…

Thiếu lực lượng nghiên cứu phát triển, từ lực lượng tư vấn, thiết kế công nghệ và thiết kế chế tạo, đến các chuyên gia đầu ngành với vai trò công trình sư, tổng công trình sư và lực lượng công nhân lành nghề. Chất lượng đào tạo kỹ sư CK chưa đáp ứng yêu cầu thực tế. Nguồn vốn cho đầu tư phát triển thiếu, chưa có chiến lược thị trường, sản phẩm, trình độ quản trị doanh nghiệp thấp. Quản lý thị trường yếu kém để hàng CK chất lượng thấp, giá rẻ tràn vào thị trường trong nước, gây nên tình trạng cạnh tranh không lành mạnh cho các DN làm sản phẩm CK chính xác.

Theo các chuyên gia CK, năng lực cạnh tranh của ngành CK Việt Nam được đánh giá là không cao. Khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, các hàng rào bảo hộ bị bãi bỏ thì ngành CK sẽ gặp nhiều khó khăn. Lúc đó, nếu không có những chính sách kịp thời, tương lai Việt Nam sẽ trở thành “đại công trường” vì chỉ chuyên “làm thuê” CK cho các nước đầu tư trực tiếp hoặc mang sản phẩm đến Việt Nam để gia công.

Như vậy, mục tiêu phấn đấu đến năm 2010, ngành CK đáp ứng từ 45% đến 50% nhu cầu sản phẩm CK của cả nước, trong đó xuất khẩu đạt 30% giá trị sản xuất, xem ra cũng chỉ đạt được ở phần… “vĩ mô”!

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê gần đây, cả nước có khoảng 53.000 cơ sở sản xuất CK. Trong số đó 50% là các cơ sở CK chế tạo, lắp ráp, còn lại là các cơ sở sửa chữa. Có 450 DN quốc doanh,1.250 cơ sở sản xuất tập thể và 156 xí nghiệp tư doanh, còn lại là cơ sở cá thể nhỏ lẻ. Tổng số vốn của ngành CK quốc doanh vào khoảng 360-380 triệu USD, tổng vốn đăng ký đầu tư nước ngoài (FDI) vào ngành CK vào khoảng 2,1 tỷ USD, trong đó hơn 50% tập trung vào lĩnh vực lắp ráp ô tô, xe máy và các mặt hàng tiêu dùng khác.

LẠC PHONG

Thông tin liên quan:

Bài 1: Những tàn dư thời bao cấp

Tin cùng chuyên mục