Đốt đồ mã chỉ nên mang tính chất tượng trưng

SGGP
Theo PGS-TS Bùi Hoài Sơn, Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật Quốc gia Việt Nam, việc không đốt vàng mã là hợp lý với giáo lý nhà Phật và đời sống hiện nay.
Việc Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam yêu cầu các tu viện hướng dẫn đồng bào Phật tử và bà con loại bỏ mê tín dị đoan, đốt vàng mã tại các cơ sở thờ tự Phật giáo và các hình thức khác trái với thuần phong mỹ tục, văn hóa dân tộc và văn hóa Phật giáo Việt Nam, đã nhận được sự đồng thuận của nhiều nhà nghiên cứu.
Theo PGS-TS Bùi Hoài Sơn, Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật Quốc gia Việt Nam, việc không đốt vàng mã là hợp lý với giáo lý nhà Phật và đời sống hiện nay. Tuy nhiên, không thể phủ nhận, đốt vàng mã, đồ mã có ý nghĩa tích cực nhất định. PGS-TS Bùi Hoài Sơn nói: “Vàng mã, đồ mã là phương tiện kết nối âm dương, là sự chăm sóc của người sống cho người chết, thể hiện sự hiếu lễ của con người với tổ tiên, thần linh. Bên cạnh đó, nghề làm đồ mã cũng đem lại công ăn việc làm cho một bộ phận người dân. Nhưng đốt quá nhiều, đua tranh trong xã hội với quan niệm đốt càng nhiều càng có lộc là sai lầm. Chưa kể, tâm lý đó bị lợi dụng bởi những thầy cúng, thầy bói dẫn đến nhiều hệ lụy”. Có nhiều cách hạn chế việc này, như nâng cao nhận thức của người dân, chỉ đốt vàng mã theo nghi thức tượng trưng, là hình thức bày tỏ lòng hiếu lễ với người đã khuất, thần linh. Bên cạnh đó, người đứng đầu các cơ sở thờ tự, đền, chùa cần vận động người dân đi lễ không nên đốt vàng mã, đồ mã đúng theo tinh thần công văn của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam. “Bỏ ngay thói quen đốt đồ mã, vàng mã của người dân thì khó, nhưng cần hạn chế và hạn chế được là rất tốt”, ông Hoài Sơn nói.
Cùng quan điểm này, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian - GS Trần Lâm Biền cho biết, đồ mã, vàng mã xuất hiện từ thời Đường (Trung Hoa). Khi chưa có đồ mã, vàng mã, những người quyền quý chết đi thường được chôn theo vàng bạc, thậm chí cả thê, thiếp. Đồ mã, vàng mã ra đời thay thế cho những đồ thật phải táng theo người chết. “Khởi đầu của vàng mã có tính tích cực, nhưng chỉ đúng với hoàn cảnh lịch sử của thời đó”, GS Trần Lâm Biền nhận định. Tuy nhiên, hiện nay người ta quan niệm “trần sao âm vậy”, đó là áp đặt quan điểm của người ở thế giới này lên thế giới khác (nếu có). Vì vậy, nào là máy bay, ô tô, xe máy, nhà lầu… được làm để đốt xuống cho người âm. Người dân đua nhau mua đồ mã để đốt. “Nhận thức sai lầm đẩy việc sử dụng đồ mã trượt dài trên sai lầm. Dùng đồ mã với lòng tin mù quáng, nên không khác gì đem đồ giả lừa bịp tổ tiên, thần thánh”, GS Trần Lâm Biền phân tích. Cùng với các cơ sở thờ tự, ngành văn hóa các địa phương cần sớm tuyên truyền để người dân hạn chế đốt đồ mã, chỉ sử dụng tượng trưng, vừa đủ để thể hiện tấm lòng.
Trong khi đó, TS Nguyễn Văn Vịnh, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu xã hội và phát triển, cũng cho rằng hoạt động đốt vàng mã mang tính biểu trưng, nhưng nhiều người không hiểu biết thì nó như “sự mua chuộc, nịnh bợ, đút lót thần thánh và người chết, thể hiện lòng tham của con người”. Đốt vàng mã đã trở thành hủ tục, bây giờ đề xuất sửa cũng cần thời gian, không phải cứ muốn cấm là được. Người ta không đốt ở chùa sẽ đốt nơi khác, tuy nhiên Phật giáo có ảnh hưởng lớn đến đời sống nên nếu nhà chùa thực hiện sẽ có ảnh hưởng tốt đến người dân.

MAI AN

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Điện ảnh

Âm nhạc

Khởi động cuộc thi tiếng hát truyền hình Sao Mai 2019

Sáng 11-12, Liên hoan Tiếng hát truyền hình toàn quốc - Giải Sao Mai 2019 - cuộc thi tuyển chọn các giọng hát tài năng được VTV tổ chức 2 năm một lần từ năm 1997 nhằm duy trì và thúc đẩy phong trào ca hát trên phạm vi toàn quốc, cộng đồng người Việt đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài, đã chính thức khởi động tại Hà Nội.

Sân khấu

Một thời thịnh suy

Thập niên 1960 thế kỷ trước có thể coi là thời kỳ hoàng kim của sân khấu cải lương Sài Gòn và miền Nam nói chung. Trong năm 1966, toàn miền Nam có 92 gánh cải lương lớn nhỏ, trụ ở Sài Gòn và các tỉnh. Báo Chánh Đạo số tất niên chốt hạ bằng một câu: “Đi đâu cũng gặp hát cải lương!”.

Sách và cuộc sống

Sáng tác

Thơ và thi sĩ

Trong cuốn sách nổi tiếng Thi nhân Việt Nam 1932-1941, Hoài Thanh - Hoài Chân nhận xét: “Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên, rạo rực băn khoăn như Xuân Diệu…”.

Mỹ thuật

Gần 500 tác phẩm nghệ thuật của Việt Nam đã “hồi hương”

Với mong muốn bảo tồn các giá trị văn hóa của nước nhà, 500 tác phẩm nghệ thuật, trong đó có nhiều tác phẩm hội họa của các cây đại thụ trong làng mỹ thuật Việt Nam như “Trí - Lân - Vân - Cẩn” và “Nghiêm - Liên - Sáng - Phái” đã được sưu tập từ nước ngoài để lưu giữ và trưng bày tại Việt Nam.