Đường Trường Sơn, một kỳ công chiến lược

Thống nhất các lực lượng

Ngày 1-1-1959, Trung ương Đảng ra Nghị quyết 15 chuyển đấu tranh chính trị ở miền Nam sang chiến tranh cách mạng. Bộ Chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ đã giao cho Bộ Quốc phòng, Tổng tư lệnh tổ chức tuyến chi viện chiến lược trên bộ và trên biển để thực hiện công cuộc chi viện sức người, sức miền Bắc cùng với sức mạnh miền Nam thực hiện trường kỳ kháng chiến đánh thắng đế quốc Mỹ.

Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 (tháng 1-1959).

Tuyến chi viện ra đời ngày 19-5-1959 tại Khe Ó, Đặc khu Vĩnh Linh do đồng chí Võ Bẩm làm Đoàn trưởng, lấy tên Đoàn 559, là đường mòn giao liên đi bộ và gùi thồ ở phía Đông Trường Sơn trên đất Việt Nam. Tuyến đường bộ 559 đơn thuần là một tuyến vận tải, đã thực hiện được một phần nhiệm vụ có hiệu quả. Sau khi địch phát hiện, chúng đã tổ chức đánh phá, ngăn chặn quyết liệt, tuyến phải tạm ngừng.

Trước đòi hỏi bức bách của chiến trường, năm 1963-1964, Đoàn 559 lật cánh sang Tây Trường Sơn, mở đường vận tải cơ giới quy mô nhỏ, điểm đầu cây số 0, ngã ba Khe Ve, tỉnh Quảng Bình.Từ đi bộ chuyển sang cơ giới là bước phát triển lớn, các mặt chuẩn bị chưa đồng bộ, lực lượng thiếu và phân tán, thiếu thống nhất chỉ huy, địch lại đánh phá quyết liệt, nên thời gian này hoạt động trên tuyến đi theo chiều hướng thụ động. Năm 1967, Quân ủy Trung ương chỉ thị cho Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Đoàn 559 kiểm điểm nghiêm túc, tìm ra biện pháp hữu hiệu, vẫn giữ vận tải cơ giới là chính để đáp ứng yêu cầu của chiến trường. Đảng ủy và Bộ Tư lệnh đã tổ chức một đợt kiểm tra thực địa trên toàn tuyến trong một tháng để đánh giá một cách thực chất về địch, ta mọi mặt trên chiến trường Trường Sơn.

Kết thúc đợt kiểm tra, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh đã tổng hợp báo cáo và đề nghị Quân ủy Trung ương cho thống nhất tất cả các lực lượng bộ binh, phòng không, đoàn chuyên gia và các lực lượng phục vụ chiến đấu vào Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Sau đó, Bộ Tổng Tư lệnh ra quyết định: thống nhất Tổng cục Hậu cần tiền phương vào Đoàn 559, nâng cấp lên Quân khu trực thuộc Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh, Quân ủy Trung ương, phạm vi phụ trách từ phía Nam sông Lam-Nghệ An, cây số 0, ngã ba Lạc Thiện-Hà Tĩnh. Từ đó hình thành căn cứ chiến lược tổng hợp Đông-Tây Trường Sơn.

Với chính diện 160km, chiều sâu 1.600km; phía Đông cây số 0 ngã ba Lạc Thiện - Tây Hà Tĩnh, đầu năm 1973 từ Tân Kỳ-Nghệ An đến Lộc Ninh-Đông Nam bộ; phía Tây từ Trung Lào đến ngã ba biên giới - Đông Bắc Campuchia, nối đường 13 của Campuchia đến Lộc Ninh. Đây là căn cứ chiến lược độc đáo hiếm có, sử dụng được thế thiên hiểm của Đông-Tây Trường Sơn, với 3 cao nguyên: Tây Nguyên (Việt Nam) – Bôlôven (Lào) – Đông Bắc Campuchia. “Tiến vi công, thoái vi thủ” - Vì thế, căn cứ chiến lược tổng hợp này là hậu phương trực tiếp chung cho cả 3 nước.

Để thực thi nhiệm vụ chi viện và các nhiệm vụ khác, ưu tiên hàng đầu là xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng, trước tiên là mạng lưới giao thông. Với tinh thần “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, chúng ta đã tập trung cao độ sức lực, trí tuệ xây dựng nên một mạng lưới giao thông đa dạng, đồng bộ, liên hoàn với 5 trục dọc, 21 trục ngang có tổng chiều dài lên tới 20.000km, xuyên Bắc Nam, xuyên 3 nước, xuyên Đông-Tây Trường Sơn, đến tất cả các chiến trường.

Hệ thống này có nhiều đường sử dụng, đường dự bị, đường nghi binh, đường kín xe chạy ban ngày, đường cấp phối Đông Trường Sơn sử dụng quanh năm, chưa tính mạng đường chằng chịt trong các tỉnh, là nghệ thuật triệt để nhất để phá thế độc đạo.

Tuấn mã Trường Sơn, gan vàng dạ ngọc

Căn cứ chiến lược đặc biệt này còn có 3.000km đường giao liên hành quân bộ đến các chiến trường, đã đưa đón 2 triệu quân, cán, thương bệnh binh vào ra. Có 2.000km đường ống dẫn xăng dầu Đông-Tây cho đến khu vực Lộc Ninh. Có 1.600km đường dây thông tin tải ba giúp chỉ huy binh chủng hợp thành trên chiến trường Trường Sơn, giúp nối thông giữa Tổng hành dinh với các chiến dịch, chiến trường.

Căn cứ còn có 700km đường sông Mêkông, Sêkông, sông Gianh, sông Kiến Giang, sông Thạch Hãn; hệ thống kho dự trữ chiến lược, cơ khí đảm bảo kỹ thuật, cơ sở điều trị, trường huấn luyện, đoàn an dưỡng, cảng biển, cảng sông, sân bay chiến đấu dã chiến, các khu tập kết chuẩn bị chiến dịch, chỉ huy sở các cấp.

Hợp điểm cuối cùng của công trình là cụm cuối thuộc khu vực Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước – Đông Nam bộ, gần khu vực đóng Trung ương Cục miền Nam, Bộ Tư lệnh Miền, Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam.

Trong quá trình tổ chức vận tải đa phương thức, bộ đội vận tải là lực lượng trung tâm để hợp đồng binh chủng. Từ gùi thồ đến cơ giới được quân sự hóa, chiến đấu hóa, chính quy hóa; trong thế binh chủng hợp thành từ binh trạm, tập đoàn binh trạm đến toàn tuyến; đi - về theo đường riêng hai chiều thuận, có lực lượng nhỏ liên tục đi trên đường nghi binh. Bộ đội vận tải đã được các binh chủng trên chiến trường quý trọng, gắn cho biệt hiệu “Tuấn mã Trường Sơn, gan vàng dạ ngọc”.

Cuối tháng 3-1975, Chủ tịch nước ban bố Sắc lệnh Tổng động viên. Tổng hành dinh ra lệnh thần tốc. Cả miền Bắc đã sử dụng mọi phương tiện đường bộ, đường biển, đường sông, đường hàng không dồn dập vận chuyển cơ sở vật chất, binh lực đến sân bay Đồng Hới, cảng Nhật Lệ (Quảng Bình); cảng Cửa Việt, cảng Đông Hà, Cam Lộ (Quảng Trị) tạo chân hàng và binh lực khổng lồ giao cho tuyến Trường Sơn. Từ đây, 2 sư đoàn và 2 trung đoàn xe Trường Sơn với 6.000 xe đã sử dụng đội hình sư đoàn và trung đoàn xe tập trung vận chuyển cơ sở vật chất và binh lực suốt đêm ngày trên cả hai tuyến đường Đông-Tây Trường Sơn. Sư đoàn xe 471, 571 và 2 trung đoàn xe giao liên đã cơ động gọn Quân đoàn 1, Quân đoàn 3, Quân đoàn 2, 2 sư đoàn bộ binh đến khu vực Đồng Xoài trước thời gian.

Cánh đường 1, sư đoàn xe 571 đã cơ động Quân đoàn 2 và 2 sư đoàn bộ binh hỗ trợ cho các binh chủng kỹ thuật, đánh địch trong hành tiến, giải phóng Đà Nẵng, các tỉnh duyên hải; hình thành cánh tiến công phía Đông đánh vào Sài Gòn.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Bộ đội Trường Sơn đã tăng cường một sư đoàn phòng không, một sư đoàn bộ binh cánh Đông, 2 trung đoàn công binh, 6 trung đoàn xe vận tải chở bộ binh tấn công thẳng vào trung tâm thành phố. Với sức mạnh áp đảo các hướng, chính quyền Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện, thành phố giữ được nguyên vẹn.

Trong cuộc đọ sức quyết liệt ấy, các lực lượng của chiến trường Trường Sơn –đường Hồ Chí Minh đã anh dũng hy sinh 22.000 đồng chí, trong đó có cả đồng chí Đặng Tính- Chính ủy Quân khu và nhiều cán bộ trung, cao cấp. Bị thương, bị bệnh, bị chất độc da cam trên 30.000 người, trong đó có 3 đồng chí Phó Tư lệnh, 1 đồng chí Chính ủy và 2 đồng chí Phó Chính ủy Quân khu đã mất. Xe máy, pháo bị đánh cháy, đánh hỏng trên 6.000 lượt chiếc.

Chiến công vô cùng chói lọi và sự anh dũng hy sinh cũng hết sức to lớn. Đảng, Nhà nước khẳng định các lực lượng của chiến trường Trường Sơn – đường Hồ Chí Minh đã chiến đấu và lao động chủ động sáng tạo, kiên cường, dũng cảm, anh hùng vô tận.

Kết thúc nhiệm vụ, Bộ đội Trường Sơn đã được Bộ Chính trị đánh giá: “Các binh chủng Bộ đội Trường Sơn là lực lượng chủ yếu hoàn thành nhiệm vụ kiệt xuất, góp phần làm nên một trong các yếu tố chiến lược, có ý nghĩa quyết định rút ngắn thời gian giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Thành tựu đó mãi mãi được lưu truyền trong sử sách của dân tộc Việt Nam anh hùng, Quân đội Việt Nam anh hùng”.

Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên
(Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị,
nguyên Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn)

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất