Giám đốc Hoàng Xuân Nhị với sự nghiệp giáo dục kháng chiến Nam Bộ

Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Giáo sư Hoàng Xuân Nhị (5/1914 – 5/2014)

Những ai đã từng học tập, công tác và chiến đấu tại chiến khu Đồng Tháp Mười và Rừng U Minh trong thời gian từ 1947 đến 1954, chắc hãy còn lưu giữ trong ký ức của mình hình ảnh một trí thức Việt kiều cao to, có vầng trán rộng, với giọng nói “trò trẹ” hơi khó nghe, đặc biệt là có mái tóc bạc phơ mặc dù hồi ấy anh mới ngoài 30 tuổi. Vì vậy anh em chúng tôi gọi anh bằng “Anh Ba FM đầu bạc”. Thứ “Ba” là thứ do kháng chiến đặt cho anh theo kiểu Nam Bộ, “FM đầu bạc” là vì tóc của anh bạc trắng gợi lên hình ảnh khẩu súng trung liên hiệu Brenn mà nòng súng bọc bằng kim loại màu trắng. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh rời bỏ thành phố Paris hoa lệ, về nước, vào bưng biền Đồng Tháp Mười tham gia kháng chiến. Đó là thạc sĩ Hoàng Xuân Nhị, Giám đốc đầu tiên của Viện Văn hóa kháng chiến Nam Bộ, sau đó là Giám Đốc Sở Giáo dục Nam Bộ khi Viện và Sở thống nhất thành một cơ quan chung.

Hoàng Xuân Nhị sinh năm 1914 trong một gia đình nho giáo quê ở Hà Tĩnh. Mồ côi cha mẹ từ thuở còn bé, phải nhờ họ hàng giúp nuôi ăn học. Nhà nghèo, anh phải vừa làm vừa học tại Huế và Hà Nội. Năm 1936 được hội “Như Tây du học” ở Huế cấp phân nửa suất học bổng để sang Pháp học. Với năng khiếu bẩm sinh về văn học, Anh sớm thiết lập quan hệ với giới văn học nổi tiếng của Pháp như tạp chí Mercure de France, viện sĩ Hàn lâm Georges Dumahel…, dịch ra tiếng Pháp nhiều tác phẩm văn học cổ điển như Lưu Bình-Dương Lễ, Chinh phụ ngâm, Kim Vân Kiều… Sau khi đỗ cử nhân triết học năm 1937, Hoàng Xuân Nhị tiếp tục học cao học và được bầu vào Ban chấp hành Hội Việt kiều yêu nước. Cộng đồng người Việt tại Pháp, nhất là giới trí thức trẻ, ngày càng hướng về Tổ quốc, tích cực giúp đỡ Đoàn đại biểu nước ta tham dự Hội nghị Fontainebleau, hết lòng phục vụ Đoàn Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Pháp với tư cách thượng khách của chính phủ Pháp.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ, năm 1946 nhiều trí thức trẻ, trong đó có Hoàng Xuân Nhị, quyết định về nước bằng đường tàu thuỷ. Trong khi tàu còn đang lênh đênh trên Ấn Độ Dương thì được tin toàn quốc kháng chiến bùng nổ đêm 19 tháng Mười hai. Cả nhóm quyết định lên bến cảng Sài Gòn thay vì bến Hải Phòng như dự định ban đầu bởi vì Hải Phòng lúc đó đang có chiến sự.

Nhóm này liền bắt liên lạc với tổ chức cách mạng Sài Gòn- Chợ Lớn, và được đưa ra “thủ phủ” của Nam Bộ kháng chiến là chiến khu bưng biền Đồng Tháp Mười để nhận công tác. Công việc đầu tiên của Hoàng Xuân Nhị là làm Tổng biên tập tờ báo ngoại ngữ của Nam Bộ, đó là tờ Tiếng nói bưng biền (La voix du maquis) với mục tiêu làm cho người Pháp có lương tri hiểu rõ về tính chất chính nghĩa và sự tất thắng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta. Là người thông thạo ba ngoại ngữ Pháp, Đức, Anh, Hoàng Xuân Nhị sau đó được giao nhiệm vụ chính trị viên “Binh đoàn quốc tế” gồm nhiều binh sĩ lê dương (đa số là người Đức) và lính Âu Phi trong đội quân viễn chinh Pháp bỏ hàng ngũ chạy theo Việt Minh.

Giữa năm 1947, Viện văn hoá kháng chiến và Sở Giáo dục Nam Bộ được thành lập với chức năng nhiệm vụ chung là chăm lo đời sống văn hoá - giáo dục của nhân dân các vùng do chính quyền cách mạng quản lý. Cụ thể là hoàn thành công việc xoá mù chữ ; phát triển giáo dục tiểu học ngoại trú và nội trú; mở các trường trung học nội trú để thực hiện nhiệm vụ chiến lược “biến con em nông dân thành trí thức cách mạng”. 

Trong các nhiệm vụ cơ bản của ngành giáo dục Nam Bộ thời bấy giờ, nhiệm vụ mở các trường trung học nội trú trong bưng biền là một việc làm hoàn toàn mới và vô cùng khó khăn bởi vì hồi ấy chúng ta chỉ có “hai bàn tay trắng”: không cơ sở vật chất kỹ thuật, không thầy, không chương trình, không sách giáo khoa. Nhưng cái khó không bó cái khôn. Giám đốc Hoàng Xuân Nhị cùng tập thể cán bộ, nhân viên, thầy và trò dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân địa phương, phát huy trí tuệ và tính năng động sáng tạo để giải quyết mọi khó khăn tưởng chừng như không thể vượt qua nỗi.

Khó khăn lớn nhất là về nội dung giảng dạy. Tìm đâu ra thầy để dạy? Hồi đó phần đông các giáo sư trung học thời Pháp thuộc đi theo kháng chiến đều đang giữ trọng trách tại các địa phương hay ngành khác. Giám đốc Hoàng Xuân Nhị có sáng kiến độc đáo. Đó là mở một “Lớp sư phạm văn hoá đặc biệt khoá Phan Châu Trinh” để đào tạo giảng viên trung học. Đối tượng chiêu sinh là những cán bộ kháng chiến có trình độ học vấn tương đương Thành chung (Diplôme) hoặc Tú tài thời Pháp thuộc. Sau khi hoàn thành chương trình học tập cấp tốc trong 6 tháng, số học viên này có trình độ tương đương cao đẳng sư phạm, có thể trở thành cán bộ giảng dạy bậc trung học cơ sở hoặc cán bộ lãnh đạo các Ty giáo dục (tức Sở Giáo dục các tỉnh ngày nay).

Một khó khăn lớn khác cần giải quyết là dạy bằng tiếng gì, dạy theo chương trình và nội dung nào? Ai nấy đều dễ nhất trí với nhau rằng: nước nhà đã độc lập, không thể tiếp tục dạy bằng tiếng Tây, theo chương trình và sách giáo khoa của Tây. Phải dạy bằng tiếng Việt, theo chương trình và sách giáo khoa do ta biên soạn, với nội dung yêu nước và phục vụ kháng chiến theo tinh thần “dân tộc, khoa học, đại chúng”. Nói thì dễ, nhưng thực hiện thì không dễ chút nào. Các bác giáo sư lớn tuổi trước kia học trường Tây, dạy bằng tiếng Tây, theo chương trình và sách giáo khoa do Tây biên soạn. Chúng tôi, những giảng viên trẻ, cũng đã học bằng tiếng Tây theo chương trình của Tây. Thế nhưng, dưới sự chỉ đạo của giáo sư Hoàng Xuân Nhị, với cuốn Danh từ khoa học của Hoàng Xuân Hãn và cuốn Từ điển Hán-Việt của Đào Duy Anh, tập thể các giáo sư và giảng viên chúng tôi, đã làm việc với tinh thần năng động và óc sáng tạo, kiên trì từng bước vượt qua mọi khó khăn về việc biên soạn chương trình và bài giảng bằng tiếng Việt.

Cuối cùng rồi mọi việc cũng xong. Chúng tôi đã biên soạn được chương trình và tài liệu giáo khoa bậc trung học với nội dung thiết thực phục vụ kháng chiến, có tính đến sự phát triển toàn diện của học sinh (như dạy các môn thể dục thể thao, âm nhạc, hội hoạ, tiếng Trung Hoa, tiếng Anh..).

Ngày nay dạy bằng tiếng Việt, theo chương trình và sách giáo khoa do ta biên soạn là chuyện đương nhiên. Nhưng hãy tưởng tượng, cách đây hơn nửa thế kỷ, khi giáo dục trong các đô thị bị tạm chiếm còn bị lệ thuộc gần như hoàn toàn vào tiếng Pháp, thì trong bưng biền thiếu thốn mọi bề, “muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lền như bánh canh”, nhưng với tinh thần yêu nước nồng nàn và với óc sáng tạo dám nghĩ, dám làm, tập thể các giáo sư già giặn kinh nghiệm và các giảng viên trẻ , một tay đập muỗi, một tay cầm bút, đã soạn thảo chương trình và tài liệu giáo khoa về tất cả các môn khoa học xã hội và khoa học tự nhiên hoàn toàn bằng tiếng Việt. Có người cho đó là một điều kỳ diệu.

Về thành tích của ngành giáo dục trung học Nam Bộ trong thời gian kháng chiến chống Pháp, cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đánh giá: “Trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn của những năm Nam Bộ kháng chiến, các giáo sư yêu nước đã cùng các cán bộ giảng dạy trẻ, đặt những viên gạch đầu tiên cho nền giáo dục mới theo phương châm “học đi đôi với hành”, “nhà trường gắn liền với sản xuất, chiến đấu và dân vận”. Đã có những gương dạy tốt và học tốt. Nhờ vậy, nhiều học sinh lúc bấy giờ được rèn luyện qua hai cuộc kháng chiến và được học tập thêm, về sau trở thành cán bộ cốt cán tại nhiều địa phương Nam Bộ và cả ở Trung ương” (**).

Khi nói về những thành tích của giáo dục Nam Bộ, người ta nghĩ ngay đến Giám đốc Hoàng Xuân Nhị, người đã đóng góp rất nhiều công sức, nếu không muốn nói là có công đầu, trong việc thực hiện chủ trương nhìn xa trông rộng của Xứ ủy và Ủy ban kháng chiến/hành chánh Nam Bộ về việc “biến con em nông dân thành trí thức cách mạng để phục vụ công cuộc trường kỳ kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng và có tính đến kiến thiết đất nước sau này”, bằng cách thành lập một loạt các trường “trung học kháng chiến” và “trung học bình dân” trong chiến khu huyền thoại Đồng Tháp Mười và Rừng U Minh.

Cuối năm 1954, Sở Giáo dục Nam Bộ hoàn thành nhiệm vụ lịch sử, Giám đốc Hoàng Xuân Nhị tập kết ra miền Bắc theo tinh thần Hiệp định Genève, trở thành Giáo sư đại học và tiếp tục sự nghiệp “trồng người” tại thủ đô Hà Nội. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua. Tuy nhiên “Anh Ba FM đầu bạc” vẫn còn ở lại mãi mãi trong lòng người dân Cà Mau, nơi tận cùng của Tổ quốc. Bà con cô bác lớn tuổi, nhất là những nơi Sở Giáo dục Nam Bộ đóng cơ quan như Tân Bằng-Cán Gáo, Rạch Chệt- Cái Tàu, Tân Đức-Tân Thuận, v.v… vẫn còn nhớ mãi vị Giám đốc mới ngoài bốn mươi tuổi mà tóc đã bạc phơ, có lối sống giản dị, chan hòa với mọi người dân địa phương. 

Tháng Năm 2014. 

Võ Anh Tuấn (*)


(*) Tức Nguyễn Văn An, nguyên Phó Giám đốc Sở Giáo dục Nam Bộ thời kháng chiến chống Pháp.

(**) Lời giới thiệu sách “Dạy và Học trong những năm Nam Bộ kháng chiến”, nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1995.

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

 Giá giữ xe tăng vọt ảnh hưởng đến đời sống người dân ở các chung cư                Ảnh: KIM HUYỀN

Vì sao giá giữ xe tăng gấp 5 lần?

Quyết định 35/2018 của UBND TPHCM bất ngờ quy định giá giữ xe tăng gấp 5 lần so với quy định cũ khiến cư dân toát mồ hôi, có nơi cư dân đòi giăng băng rôn phản đối chủ đầu tư chung cư. Trong khi lương tăng chưa đầy 10%/năm thì giá giữ xe chỉ trong vòng một năm rưỡi đã tăng… 500%! 

Giao thông - Đô thị

Quy hoạch

Tin buồn

Trưởng lão Hòa thượng THÍCH HIỂN PHÁP, Nhân sĩ đã từ trần

Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam; Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TPHCM; Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam TPHCM; Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Bến Tre; Thiền viện Quảng Đức, chùa Hưng Phước, môn đồ pháp quyến, hiếu quyến vô cùng kính tiếc báo tin: