Ngày 10-4, thời hạn chót thu nhận hồ sơ dự thi đại học, cao đẳng (HSDT ĐH-CĐ) 2008 đã đến. Tuy nhiên, theo ghi nhận của chúng tôi, tại các điểm thu nhận HS, nhiều thí sinh (TS) vẫn phân vân, loay hoay trong việc chọn trường, chọn ngành dự thi phù hợp, dễ trúng tuyển.
“Biết người, biết ta”…
Thí sinh chen lấn nộp hồ sơ dự thi ĐH - CĐ tại Sở GD - ĐT chiều ngày 9-4. Ảnh: T. Hà
Chen ra khỏi đám đông đang nộp HSDT ĐH-CĐ tại Văn phòng 2 của Bộ GD-ĐT, TS Lê Thị Xuân Trang thở phào nhẹ nhõm: “Mình chọn xong rồi, thi vào ngành Kế toán Trường ĐH Mở và Trường CĐ Nguyễn Tất Thành. Mọi năm, điểm chuẩn của hai trường này chỉ ở mức sàn sàn 15 - 16 nên dễ đậu hơn. Rút kinh nghiệm từ lần thi năm trước, cùng ngành này nhưng Trường ĐH Kinh tế lấy đến 21,5 điểm.
Mình so sánh điểm chuẩn các trường và quyết định chọn vào trường thường thường bậc trung cho dễ đậu”. Không chỉ tự tin với lựa chọn của mình, bạn Xuân Trang còn “khuyến khích” 3 cô bạn bị trượt Trường ĐH Kinh tế năm rồi “lai kinh ứng thí” cùng ngành, cùng trường với hy vọng nắm chắc ghế tại giảng đường ĐH năm nay.
Trong khi đó, Thùy An, học sinh lớp 12 Trường THPT Nguyễn Hữu Huân - Thủ Đức, phân vân với 3 bộ HSDT ĐH: “Một là thi vào Nha khoa của ĐH Y Dược để làm ba mẹ vui lòng nhưng sợ học không nổi. Hai là vào khoa Quản trị kinh doanh của Trường ĐH Bán công Marketing theo sở thích. Ba là thi vào một trường CĐ vừa sức hơn nhưng lại sợ bị la…”.
Không chỉ thi ĐH kiểu “hên xui”, nhiều TS đã phải chọn ngành nghề dự thi theo nhu cầu và sở thích của phụ huynh, thậm chí có trường hợp đang học ĐH nhưng vẫn phải thi tiếp để làm vui lòng cha mẹ như TS Phạm Thị Hương đang là SV năm 1 ngành Hóa Trường ĐH KHTN nhưng vẫn ĐKDT vào ngành Y học cổ truyền của ĐH Y Dược năm 2008. “Năm 2007 mình thi ngành này thiếu đến 6 điểm. Tự thấy sức mình không với tới, nhưng mẹ ép mãi nên mình thi cho vui cả nhà, chứ có học hành gì đâu”.
“Biết người – biết ta”, TS Trần Ngọc Phương Khanh, học sinh lớp 12 Trường THPT Võ Thị Sáu, phân tích: “HS có hai cách để chọn trường dự thi, một là chọn ngành “hot” ra trường dễ kiếm việc làm; hai là chọn trường, ngành có điểm chuẩn vừa phải hoặc thấp cho dễ vào ĐH”. Riêng Phương Khanh chọn cách thứ hai chắc ăn hơn bằng cách đăng ký vào 3 trường ĐH, CĐ thuộc tốp giữa: ngành công nghệ thực phẩm vào Trường ĐH Công nghiệp (thi khối A), ngành chế biến nông sản thuộc ĐH Nông Lâm (thi khối B) và Trường CĐ Kinh tế – Công nghệ. Tuy học lực khá giỏi nhưng Khanh tự thấy mình phù hợp với những ngành chế biến thực phẩm có điểm chuẩn vừa phải lại dễ kiếm việc làm khi ra trường vì đây là ngành đang rất “hot”.
4 nhóm trường cần biết
Theo thạc sĩ Nguyễn Ngọc Tài, Viện Nghiên cứu giáo dục TPHCM, khi tư vấn tại các trường phổ thông, nhóm nghiên cứu tạm chia HS ra 4 nhóm. Nhóm thứ nhất dành cho những HS giỏi nên mạnh dạn đăng ký vào các trường top điểm cao như ĐH Bách khoa, ĐH Y Dược, ĐH Kiến trúc, Khoa Kinh tế ĐHQG TPHCM, ĐH Sư phạm, ĐH KHXH - NV…
Ở những nhóm trường này, có một số ngành TS phải chịu tỷ lệ chọi cao, do vậy xác suất đậu sẽ rất thấp. Dù tỷ lệ chọi của ĐH Bách khoa chỉ dao động từ 1/2,8 đến 1/4 hoặc ĐH Kiến trúc có năm tỷ lệ chọi chỉ ở mức 1/7,8 nhưng thực ra đây chỉ là giữa các HS giỏi. Còn tỷ lệ chọi của ĐH KHXH – NV cũng chỉ dao động từ 1/5,6 đến 1/8,6 nhưng trường đặc trưng cho TS thi khối C, D quy tụ những TS giỏi hai khối này.
Nhóm thứ 2 gồm các trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật, ĐH KHTN, ĐH Giao thông Vận tải, ĐH Kinh tế, ĐH Ngân hàng, ĐH Luật, ĐH Nông Lâm, ĐH Công nghiệp dành cho các HS có học lực giỏi nhưng không đủ tự tin thi vào nhóm 1 và dành cho HS có học lực khá và một số HS có học lực trung bình – khá đăng ký thi. Tuy ĐH Kinh tế, Nông Lâm, Luật… có tỷ lệ chọi rất cao nhưng chỉ là giữa HS khá và HS trung bình, trong đó số lượng HS trung bình thi vào rất cao, chủ yếu để thử thời vận.
Nhóm thứ 3 chủ yếu dành cho các HS sức học trung bình – khá và trung bình thi vào các trường ĐH dân lập, CĐ với tỷ số chọi thấp, khả năng đậu cao. Nhóm thứ 4 rơi vào các trường hợp có học lực trung bình hoặc trung bình yếu. Một số HS có kết quả học tập cao nhưng hoàn cảnh khó khăn cũng đăng ký vào nhóm TCCN, CNKT. Nhóm 4 rất rộng mở, HS nhanh chóng có được bằng nghề và tự kiếm việc làm. HS có khả năng sẽ học tiếp liên thông lên ĐH.
Chọn trường dự thi chính là chọn nghề nghiệp gắn với những hoài bão, hạnh phúc sau này. Dù mùa tuyển sinh nào, các phương tiện truyền thông đại chúng cũng nỗ lực tuyên truyền, tư vấn TS chọn trường dựa vào năng lực, sở thích, điều kiện kinh tế, nhu cầu xã hội, nhưng vẫn có không ít TS chọn nghề theo cảm tính, theo kỳ vọng của gia đình. Tại các điểm thu nhận hồ sơ, chúng tôi đã gặp không ít trường hợp sẵn sàng bỏ trường ĐH đang học để quyết tâm làm lại từ đầu vì chọn sai trường.
Anh Nguyễn Xuân Hòa, kỹ thuật viên xét nghiệm tại một bệnh viện cay đắng chia sẻ kinh nghiệm… lãng phí thời gian và tiền của khi chọn trường ngoài tầm với: “Nếu như tôi đã không lãng phí 5 năm thi vào ngành bác sĩ đa khoa của ĐH Y Dược cho “oai”, thay vì học lớp trung cấp kỹ thuật viên xét nghiệm chỉ mất có 3 năm thì tôi đã vững tay nghề như những đồng nghiệp khác. Tiếc thay, giờ tôi chỉ mới là người nhập môn”.
Hồng Liên – Tiêu Hà
Những sai lầm khi chọn nghề Chọn nghề vượt khả năng trí tuệ của HS, rất ít người có thể theo được. Chọn nghề đòi hỏi tài năng khéo léo cao mà bản thân khó đạt tới. Chọn nghề mà bản thân không đáp ứng được khả năng đặc biệt của nghề. Chọn nghề nhưng thiếu điều kiện sức khỏe hay yếu tố thể chất không phù hợp. Chọn nghề không phù hợp với khả năng tài chính của gia đình và bản thân. Chọn nghề do sự tác động hào nhoáng của nghề. Chọn nghề có quá nhiều người theo đuổi dẫn đến khả năng khó tìm việc làm và ít cơ hội thành đạt. Chọn nghề theo tham vọng hay mơ ước của cha mẹ, lời rủ rê của bạn bè.