|
|
Tổng thống Nursultan Nazarbayev và Tổng thống George W.Bush tại Nhà Trắng (12-2001). |
Tất nhiên không chỉ châu Phi, giới “chính trị vàng đen” cũng hiện diện tại Trung Á. Mùa hè 1998, một số cố vấn chính trị hàng đầu Washington đã đến Almaty (Kazakhstan) gặp gỡ Tổng thống Nursultan Nazarbayev. Tuy nhiên, đó là bề mặt. Đằng sau đó, nhiệm vụ đích thực của nhóm “đặc nhiệm chính trị” trên là vận động hành lang để các công ty dầu Mỹ giành được quyền khai thác trước đối thủ Nga. Nhóm cố vấn gồm một cựu ngoại trưởng, một cựu chánh án tối cao và một cựu tùy viên tổng thống. Ngoài ra, còn có một cựu giám đốc điều hành Ủy ban quốc gia Dân chủ và một nhà quyên góp tài trợ chính trị hàng đầu của tổng thống tương lai George W. Bush.
Gặp nhau ở Almaty, nhóm cố vấn – mệnh danh “Nhóm P” – đã tung ra loạt hồ sơ ca tụng Chính phủ Nazarbayev về việc đề xướng “báo chí độc lập một cách tích cực”, tạo ra “một hệ thống bầu cử dân chủ và tự do”. Cùng Nhóm P, một nhóm cố vấn khác còn dàn xếp chuyến làm việc miễn phí cho vài nhà báo Mỹ đến Kazakhstan nhằm viết bài tích cực ca ngợi công trạng Nazarbayev.
Chi tiết chiến dịch này được Los Angeles Times tiếp cận đã cho thấy có hàng chục cựu viên chức thời Reagan, Clinton cũng như hai trào Bush-bố và Bush-con đều dính dáng công nghiệp dầu – chẳng hạn Brent Scowcroft (cựu cố vấn an ninh quốc gia của George H. Bush) từng là thành viên ban giám đốc kiêm tư vấn có ăn lương của công ty dầu Pennzoil-Quaker State Co và là người cổ súy thắt chặt quan hệ Hoa Kỳ-Azerbaijan; hoặc Witney Schneidman (phó trợ lý ngoại trưởng đặc trách các vấn đề châu Phi thời Clinton) từng đóng vai trò nhà tư vấn cho công ty dầu Amerada Hess…
Chiến dịch vận động hành lang của cỗ máy công nghiệp dầu càng tăng tốc thời Tổng thống George W. Bush, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầu dầu Mỹ ngày càng bức thiết. Sản lượng dầu trong nước Mỹ hiện cung cấp không đến 1/2 nhu cầu thị trường Mỹ và đến năm 2025, 70% lượng xăng trong nước Mỹ đều phải nhập từ nước ngoài. Hơn nữa, từ sau sự kiện khủng bố 11-9-2001, Washington bắt đầu có xu hướng tránh lệ thuộc nguồn dầu Trung Đông.
Tuy nhiên, bản thân các nhà cung cấp mới ở Trung Á cũng có nhiều phức tạp riêng. Sự sụp đổ của Liên Xô đã mở cửa cho các mỏ lớn tại khu vực Caspian nhưng cùng lúc nền chính trị dân chủ tại đây bắt đầu tan nát. Dù thế nào, đầu tư vào Trung Á vẫn là một giải pháp, nếu không nói là giải pháp tốt nhất. Các công ty Mỹ đã chi hàng tỉ đôla vào Kazakhstan, nơi có trữ lượng dầu khoảng 110 tỉ thùng – không bằng Saudi Arabia nhưng nhiều gấp 5 lần trữ lượng dầu nước Mỹ (dầu hỏa đã kích thích kinh tế tăng trưởng 9,5% vào năm 2003 tại Kazakhstan, quốc gia lớn thứ 9 trong khu vực).
“Kazakhstan có thể sản xuất hơn 3 triệu thùng mỗi ngày vào cuối thập niên này và sẽ trở thành một trong 5 quốc gia hàng đầu thế giới về xuất khẩu dầu” – phát biểu của Thứ trưởng ngoại giao Mỹ Richard L. Armitage tại Hiệp hội doanh nghiệp Hoa Kỳ-Kazakhstan (Washington DC) vào ngày 27-4-2004. Trước khi tham gia nội các Bush, Richard L. Armitage từng cai quản một công ty tư vấn cho hoạt động đầu tư khu vực Caspian và là một trong những người hiếm hoi ca tụng “công đức” Tổng thống Nazarbayev.
Tuy nhiên, thực tế lại khác. Năm 1993, khi lần đầu tiên trở thành quốc gia độc lập, Kazakhstan được Liên hiệp quốc xếp hạng 54 trong 173 quốc gia; năm 2003, nước này đã tụt xuống hạng 76 trong 175 quốc gia (về tiêu chuẩn đời sống người dân). Chính Washington không lạ gì không khí phi dân chủ tại môi trường chính trị Kazakhstan.
Trong khi đó, gia đình Tổng thống Nursultan Nazarbayev giàu nứt đố đổ vách. Một người con gái Nazarbayev sở hữu công ty xây dựng chuyên thực hiện các công trình lớn tại Almaty; và cô con gái khác cai trị một tập đoàn truyền thông. Năm 2003, Bộ Tư pháp Mỹ đã qui kết James H. Giffen (nhà tư vấn New York) tội tuồn hơn 78 triệu USD “một cách phi pháp” cho Nazarbayev và cựu Thủ tướng Nurlan Balgimbayev.
|
| Dariga Nazarbayeva – ái nữ của Tổng thống Nursultan Nazarbayev |
Cáo trạng cho biết số tiền trên lấy từ phí mà James H. Giffen nhận được từ các công ty dầu Mỹ trúng thầu tại Kazakhstan. James H. Giffen sở dĩ hối lộ để được làm nhà thương lượng “độc quyền” cho Chính phủ Kazakhstan với các đối tác Mỹ. James H. Giffen còn lập một tài khoản Thụy Sĩ, nơi mua số nữ trang trị giá hàng triệu đôla cho đệ nhất phu nhân Nazarbayev. Trong khi đó, giới chức Kazakhstan nói rằng các tài khoản mà James H. Giffen lập ra đều thuộc quản lý nhà nước chứ không phải cá nhân Tổng thống Nazarbayev hoặc cựu Thủ tướng Nurlan Balgimbayev.
Cần nói thêm, Kazakhstan thiết lập quan hệ gần gũi Mỹ ngay sau khi Liên Xô sụp đổ. Tháng 5-1992, Nazarbayev đã có mặt tại Washington và cùng Tổng thống Mỹ chứng kiến lễ ký hợp đồng khai thác dầu của giới chức công ty Chevron. Năm 1993, Chevron giành được 50% cổ phần trong mỏ dầu Tengiz. James A. Baker là “ông cò” trung gian trong quan hệ Mỹ-Kazakhstan hồi còn là ngoại trưởng thời Bush-bố.
Tháng 12-1991, vào những ngày cuối cùng của hệ thống chính trị Liên Xô, James A. Baker cùng Nazarbayev đã thảo luận về tương lai Kazakhstan trong buổi tắm hơi tại một biệt thự trên sườn núi cách không xa Almaty. Sau khi rời nhiệm sở, James A. Baker trở thành đối tác hãng luật Baker Botts (Boston) chuyên cố vấn hoạt động làm ăn tại Kazakhstan cũng như các nước khu vực Caspian.
Thời Clinton, quan hệ với Kazakhstan càng được thắt chặt. Ủy ban hợp tác Hoa Kỳ-Kazakhstan được thành lập, nằm dưới sự điều hành của Nazarbayev và Phó Tổng thống Al Gore. Cựu viên chức CIA Robert Baer kể rằng giới chủ dầu Mỹ thường gặp thành viên Hội đồng an ninh quốc gia để thảo luận tình hình chính trị và môi trường làm ăn tại Trung Á…
Năm 1998, vi phạm nhân quyền Kazakhstan bắt đầu nghiêm trọng. Thay vì cải thiện tình hình theo yêu cầu nhiều nước phương Tây (trong đó có Mỹ), Nazarbayev đã chi hơn 4 triệu USD cho giới tư vấn chính trị Mỹ để dàn xếp bất ổn trong nước. Trong vụ này, James H. Giffen đã được chọn làm “tổng giám đốc điều hành” chiến dịch chống lại làn sóng đối lập. Có bằng luật Đại học UCLA, Giffen từng làm nghề làm cò cho các công ty Mỹ với Liên Xô từ thập niên 1980.
|
| James A. Baker – một trong những (cựu) viên chức Mỹ vận động hành lang cho quan hệ chính trị vàng đen giữa Mỹ và Kazakhstan. |
Nhóm “phản ứng nhanh” do Giffen thiết lập gồm: James C. Langdon Jr (luật sư ngành năng lượng thuộc hãng Akin, Gump, Strauss, Hauer & Feld); Jay Kriegel (nguyên phó chủ tịch CBS Inc); Michael K. Deaver (phó chủ tịch hãng quan hệ đối ngoại khổng lồ Edelman và từng là phó văn phòng nội các Reagan)... Nhiệm vụ “lực lượng” này là tô son điểm phấn cho Nazarbayev để tránh sự chỉ trích từ Quốc hội Mỹ đồng thời lập kịch bản cho chiến dịch tranh cử tổng thống của Nazarbayev vào tháng 1-1999 (sớm hơn thời hạn hai năm).
Một trong những hành động cụ thể của nhóm trên là vận động cựu ngoại trưởng Lawrence S. Eagleburger (lúc đó có chân trong ban giám đốc hai công ty năng lượng Halliburton và Phillips Petroleum) viết một bài “xã luận” nội dung tích cực và ủng hộ Nazarbayev trên tờ Washington Times. Ngoài ra, Nazarbayev còn thuê Gerald Carmen (cựu đại diện Mỹ tại cơ quan Liên hiệp quốc ở Geneva) để nhân vật này tổ chức chuyến đi Kazakhstan miễn phí cho ít nhất bốn nhà báo để viết loạt phóng sự tô hồng Nazarbayev…
Ba tháng sau sự kiện 11-9-2001, Nazarbayev lại sang Mỹ và quan hệ chính trị vàng đen giữa hai nước càng tăng cường. ExxonMobil, ChevronTexaco và ConocoPhillips… hiện đều làm ăn tại Kazakhstan. Tháng 3-2002, Bộ trưởng thương mại Hoa Kỳ Donald L. Evans đã loại Kazakhstan khỏi danh sách các nước có nền kinh tế phi thị trường. Tháng 12-2003, Ngoại trưởng Colin Powell đã “chứng thực” tình trạng nhân quyền khả quan cho Kazakhstan; và tháng 2-2004, Dariga Nazarbayeva – ái nữ Nazarbayev – cũng đã đến Washington diện kiến giới chức nội các Bush và thành viên Quốc hội Mỹ…
(Còn tiếp)
MẠNH KIM |