Ít nhiều cột mốc chuyển giao quyền lực của Mỹ cho Iraq vào ngày 28-6-2004 (sớm hơn thời gian dự kiến hai ngày) cũng là thời khắc có tính lịch sử nhất định. Về lý thuyết, có vẻ như vận mạng Iraq hiện nằm trong tay người Iraq. Tuy nhiên, quân đội Mỹ vẫn tiếp tục đóng quân và nội các Iraq vẫn đầy cố vấn Mỹ. Và sự thật này (từ lý thuyết trên) sẽ mang lại điều gì?
|
Tân Đại sứ Mỹ tại Iraq John Negroponte và Tổng thống Iraq Ghazi al-Yawer.
|
Truyền hình Al-Jazeera hôm chủ nhật 27-6-2004 lại chiếu cảnh hai con tin bị bắt cóc (một người là lính Mỹ) cùng lời đe dọa quen thuộc: chặt đầu. Cùng lúc, phe phản kháng Iraq bắn trúng một máy bay liên quân (cất cánh từ phi trường Baghdad), làm chết một hành khách Mỹ; và bọn bắt cóc cũng dọa giết chết ba con tin Thổ Nhĩ Kỳ khác…
Loạt sự kiện trên xảy ra trong bối cảnh Tổng thống Mỹ George W. Bush có mặt tại Thổ Nhĩ Kỳ dự cuộc họp thượng đỉnh NATO (từ 28 đến 29-6-2004), với mục đích kêu gọi hỗ trợ quốc tế sau khi Mỹ chuyển giao quyền lực cho Iraq.
Càng sát thời điểm Iraq tiếp nhận quyền lực từ tay liên quân Anh-Mỹ, an ninh càng tồi tệ. Ít nhất 850 lính Mỹ đã thiệt mạng và 120 tỉ USD đã đổ vào Iraq nhưng tình hình tiếp tục ảm đạm. Hạt giống “dân chủ” kiểu Mỹ vẫn không nảy mầm.
Bộ máy lãnh đạo lâm thời liên quân (CPA) đã cố chứng minh nhiều thành quả đạt được: gần 2.500 ngôi trường được sửa chữa, 3 triệu trẻ em được tiêm chủng; 5 triệu USD được cho vay đến các doanh nghiệp nhỏ và 8 triệu sách giáo khoa được in (Washington Post).
Đó là chưa kể hệ thống tiền tệ mới. Và quan trọng hơn hết là cuộc “tổng tuyển cử dân chủ đầu tiên tại Iraq sau nhiều thập niên” sẽ được tổ chức vào tháng 1-2005. Tuy nhiên, nhìn lại các diễn biến từ tháng 4-2003 đến nay, Iraq vẫn là bài toán dang dở. CPA – có lúc lên đến 3.000 nhân viên – sẽ giải tán sau ngày 28-6-2004 nhưng lực lượng liên quân (138.000 lính Mỹ và 23.000 lính thuộc các nước đồng minh) vẫn lưu lại và được phép tiến hành chiến dịch quân sự mà không cần chuẩn y từ chính phủ Iraq lâm thời. Mâu thuẫn không chỉ giữa CPA và người Iraq mà còn giữa CPA và cánh quân sự Mỹ.
Phe nhà binh (Mỹ) trách phe dân sự (CPA) không tiến hành nhanh các dự án khôi phục kinh tế để xã hội lâm vào cảnh bất ổn; trong khi phe dân sự chỉ trích quân đội không làm tròn trách nhiệm ổn định an ninh. Các cuộc tấn công nhằm vào liên quân cũng như nhân viên nước ngoài hiện tăng hơn 40 vụ/ngày, gấp ba so với tháng 1-2004. Dự án khôi phục nhà máy điện Daura tại Nam Baghdad là một trong những bằng chứng về thất bại của CPA. Bị bom dội nát năm 1991 trong cuộc chiến vùng Vịnh lần một và bị bỏ xó bởi chế độ Saddam Hussein, nhà máy Daura khi được khôi phục sẽ cung cấp điện đáng kể cho thành phố. Một số công ty Đức và Nga đã được thuê để khôi phục Daura với mục tiêu cung cấp 6.000 megawatt cho sản lượng điện quốc gia.
Tuy nhiên, vào tháng 4-2004, khi toàn bộ Iraq trở thành thùng thuốc nổ với loạt chiến dịch bạo động, công ty Đức đã cuốn gói chạy trước và công ty Nga cũng theo sau vào cuối tháng 5, khi hai nhân viên của họ bị bắn chết. Loạt dự án phục hồi nhà máy lọc nước và lọc dầu cũng trục trặc tương tự, khiến Iraq phải nhập khẩu dầu và nước đóng chai… CPA lẫn Nhà Trắng cũng tính sai chi phí tái thiết Iraq. Khi khởi chiến, Nhà Trắng tính chỉ cần 900 triệu USD cũng đủ làm mới bộ mặt Iraq. Vài tháng đầu tiên sau khi giải phóng Baghdad, Nhà Trắng cộng thêm 1,1 tỉ USD vào ngân sách trên; và chưa đến tháng 9-2003, nội các Bush lại yêu cầu Quốc hội chuẩn y thêm tiền.
Trong khoản viện trợ trọn gói 18,6 tỉ USD được Quốc hội Mỹ chuẩn y tháng 11-2003, CPA mới xài chừng 3,7 tỉ USD vào trước ngày 1-6-2004, chủ yếu do nhiều dự án bị ngưng trệ hoặc đình chỉ, bởi công ty nước ngoài rút nhân viên khỏi Iraq. Do đó, quá trình tái thiết Iraq đã bị hạn chế.
Điều này khiến xã hội tiếp tục khó khăn, dẫn đến hậu quả an ninh càng bất ổn. Chỉ riêng phần an ninh, CPA đã xài hơn 2 tỉ USD (trong 18,6 tỉ USD) để thuê bảo vệ cho giới nhà thầu, mua xe chắn đạn và xây hàng rào an ninh. Trong rất nhiều điều nằm ngoài kịch bản tái thiết Iraq của Nhà Trắng, việc liên quân đối mặt một lực lượng quân sự sau thời Saddam Hussein là điều gần như không được tính đến.
Trong thực tế, thành phần Mahdi dưới sự chỉ huy của giáo sĩ Hồi giáo Shiite Moqtada Sadr đã trở thành cánh vũ trang đặc biệt nguy hiểm. Đó là chưa kể các nhóm khủng bố với sự giật dây của Al-Qaeda. Trong khi đó, việc thành lập bộ máy an ninh Iraq lại gặp trở ngại và chỉ đơn giản là sự tập hợp những kẻ ít trình độ chuyên môn và không tìm được việc làm gì khác.
Trong gần 90.000 cảnh sát Iraq, hơn 62.000 người chưa từng được huấn luyện. Chưa hết, đa số cảnh sát lẫn 40.000 nhân viên Quân đoàn quốc phòng bán vũ trang lại không được cấp vũ khí.
|
| Tính đến ngày 29-6-2004, liên quân đã thiệt mạng 975 người (trong đó có 857 lính Mỹ). |
Sự tính toán sai đem lại hậu quả bi kịch hơn hết là sai lầm về sắp xếp chính trị. Ngay từ đầu, Mỹ đã gặp rắc rối từ một thủ lĩnh Shiite – đại giáo sĩ Ali Sistani. Tháng 11-2003, toàn quyền Mỹ Bremer kết luận rằng Mỹ không thể dùng Ali Sistani (người mà cá nhân Bremer chưa từng diện kiến trực tiếp).
Sau vài cuộc họp khẩn cấp tại Nhà Trắng, ngày 15-11-2003, Bremer tung ra kế hoạch chuyển giao quyền lực mới, bãi bỏ hiến pháp và tổng tuyển cử trước khi tiến trình chuyển giao được thực hiện.
Thay vào đó, Hội đồng lãnh đạo Iraq (IGC – gồm 25 thành viên mà đích thân Bremer chọn) được chỉ định soạn hiến pháp tạm thời và bầu chính phủ lâm thời. Mục tiêu Bremer là hất Ali Sistani khỏi chính trường Iraq.
Tất nhiên Ali Sistani không chịu thua. Với vị thế “thầy cả” trong cộng đồng Hồi giáo Shiite, Ali Sistani tổ chức loạt biểu tình bạo động, khiến Nhà Trắng cậy đến bình phong Liên hợp quốc khi nhờ đặc phái viên Liên hợp quốc Lakhdar Brahimi đến Iraq chọn thành viên chính phủ lâm thời.
Bremer đã không làm được điều mà Bush muốn: đưa Adnan Pachachi lên quyền lực (bởi nhiều chính trị gia Shiite dọa tẩy chay Adnan Pachachi). Cuối cùng, Lakhdar Brahimi phải chọn Ghazi al-Yawer. Đó là chưa kể quan hệ rạn nứt giữa Mỹ và nhân vật Ahmed Chalabi. Một cách ngắn gọn, tình hình Iraq tiếp tục nằm trong vòng khống chế của Mỹ nhưng diễn biến sự kiện lại lọt khỏi tầm kiểm soát của Mỹ. Đó hẳn là điều Tổng thống Bush phải thừa nhận, cách này hay cách kia, khi kêu gọi hỗ trợ quốc tế trong cuộc họp thượng đỉnh NATO tổ chức tại Thổ Nhĩ Kỳ.
Trước đó, tại hội nghị thượng đỉnh G-8 ở Sea Island (bang Georgia), Pháp-Đức đã không màng “đề xuất” gửi quân đến Iraq để “ít nhất giúp huấn luyện cảnh sát và lính Iraq” của Tổng thống Bush. Lần này, trước thềm hội nghị NATO, Tổng thống Pháp Jacques Chirac cũng đã phủ đầu khi nói rằng “NATO không phải là công cụ” cho Iraq.
Và đến nay, “vẫn còn nhiều nghi ngờ về đường hướng chính sách chính trị và quân sự của Mỹ tại Iraq” – nhận xét của John Palmer, giám đốc chính trị thuộc Trung tâm chính sách châu Âu. Bởi còn tồn tại sự hoài nghi này, Tổng thống Bush có khả năng lại tiếp tục “đi một mình” (go it alone – từ của Bush, khi quyết định đơn phương tấn công Iraq) và tiếp tục ôm cái “oan nghiệt” Iraq.
Việc Saddam Hussein được mang ra xử vào ngày 1-7-2004 càng làm cục diện an ninh thêm phần hỗn loạn; và giải pháp “Iraq hóa chiến tranh” chỉ là công cụ nhất thời cho Tổng thống Bush trong mùa bầu cử nhưng có thể giải pháp này, như bi kịch Iraq, cũng lại là một bài toán không có kết quả như ý muốn ª MẠNH KIM
|