Tranh cử tổng thống ở Mỹ
Những “Chiến dịch bôi nhọ”
21:26', 5/7/ 2004 (GMT+7)

Theo kết quả thăm dò dư luận tại Mỹ về cuộc bầu cử tổng thống sắp tới, khoảng 40% số công dân Mỹ có ý định bỏ phiếu cho đương kim tổng thống George Bush, cũng có khoảng chừng đó người Mỹ tuyên bố sẽ bỏ phiếu cho đối thủ chính của Bush – thượng nghị sĩ John Kerry từ bang Massachusetts. Mục tiêu chính của hai ứng cử viên này là lôi kéo được càng nhiều số cử tri còn lại, những người vẫn chưa có được quyết định dứt khoát. Hai phe cạnh tranh sẵn sàng sử dụng bất cứ phương tiện nào để đạt được mục đích, kể cả dùng “chiến dịch bôi nhọ” (smear campaigns).

  • Bôi nhọ: Một thứ công cụ...

Khoảng hai thế kỷ trước, trong quá trình vận động tranh cử tổng thống vào năm 1804, các đối thủ của đương kim tổng thống Thomas Jefferson đã tìm cách mô tả ông – vốn là một người ủng hộ nhiệt thành cho cuộc cách mạng vĩ đại Pháp – như một kẻ “Pháp hóa” và có ý định phá hoại chế độ hôn nhân. Cũng trong thời gian tranh cử, tổng thống Grover Cleveland cũng phải lao đao khi đối phương tung tin đồn chưa hề được kiểm chứng về việc ông có một đứa con ngoài giá thú.

Theodor Roosevelt, một tổng thống nổi tiếng của nước Mỹ cũng là nạn nhân của trò bôi nhọ chính trị.

Nạn nhân của trò bôi nhọ còn phải kể đến một trong những tổng thống lừng danh nhất của nước Mỹ là Theodore Roosevelt (cầm quyền trong giai đoạn 1901-1909). Ông là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ nhận được giải thưởng Nobel về hòa bình, năm 1905.

Roosevelt có một tiểu sử rất rực rỡ, được coi là quan niệm lý tưởng của người Mỹ về một nguyên thủ quốc gia có ý chí và nghị lực. Dù vậy, ông vẫn trở thành nạn nhân của trò bôi nhọ, khi bị các đối thủ chính trị ngay trong đảng của mình tung tin đồn về tật nghiện rượu nặng.

Trong những năm 1960 và 1970, những thủ đoạn lén lút triệt hạ đối thủ bằng trò bôi nhọ đã phát triển thành một công cụ trong hoạt động chính trị tại Mỹ. Đỉnh điểm của quá trình này chính là vụ bê bối Watergate.

Vào thời điểm vận động tranh cử tổng thống năm 1972, người ta phát hiện tại khách sạn Watergate ở Washington – là nơi thuê làm văn phòng ban tham mưu tranh cử của phe Dân chủ – có những thiết bị nghe trộm đã được kín đáo lắp đặt.

Kết quả điều tra sau đó cho thấy, chủ đạo trực tiếp vụ này là viên thư ký báo chí của ông chủ Nhà Trắng khi đó – tổng thống Richard Nixon thuộc phe Cộng hòa. Các thành viên đảng Cộng hòa đã tìm cách tiếp cận các bí mật của phe Dân chủ để có thể sử dụng chúng trong chiến dịch bôi nhọ đối phương sau đó.

Một loạt các vụ điều tra do tờ báo có uy tín Washington Post cho thấy, Nixon cùng một vài cấp dưới thân cận nhất của ông ta (trong đó có cả tổng chưởng lý của nước Mỹ) cũng được biết về trò nghe lén trên. Cho dù hành động trên không được qui là một tội, mà chỉ coi là vụ vi phạm nghiêm trọng nhất các tiêu chuẩn đạo đức, Nixon cũng không thể đứng vững.

Thủ tục xem xét miễn nhiệm Nixon bắt đầu được đưa ra xem xét vào năm 1974. Trong một nỗ lực nhằm “thoát hiểm”, Nixon đã tìm cách gây áp lực lên tờ Washington Post để ngăn chặn tờ báo này đăng tải những chi tiết vạch trần mới. Nhưng tờ báo này đã không chịu chùn bước, trong khi công luận lại có cơ sở để khẳng định: đây là kiểu nhận tội gián tiếp của Nixon.

Khi các trợ lý thân cận nhất của mình phải rời bỏ bộ máy chính quyền thì sự nghiệp chính trị của Nixon cũng hoàn toàn sụp đổ. Nixon từ chức ngay mà không cần chờ đợi thêm một diễn tiến nào khác.

Nhờ vụ Watergate mà cho đến cuối những năm 1980, trò bôi nhọ chính trị không còn được công khai sử dụng, dù các chính trị gia vẫn tiếp tục tìm cách thu hút sự chú ý của công luận vào những nhược điểm thực tế hay tự sáng tác ra về các đối thủ.

Ví dụ như vào năm 1988, trong thời gian bầu cử sơ bộ trong nội bộ Đảng Dân chủ, hai thành viên trong ban tranh cử của ứng cử viên Michel Dukakis đã sử dụng một thủ đoạn khá đặc biệt. Họ cho phổ biến một cuốn băng ghi hình, trong có ghi lời phát biểu của đối thủ cạnh tranh, thượng nghị sĩ Joseph Biden.

Các nhân viên của Dukakis đã “biên tập lại” một cách tinh vi lời phát biểu của Biden từ những đoạn trích trong bài phát biểu của thủ lĩnh Công đảng Anh là Nail Kinnock. Tiếp đó là những lời tố cáo Biden là một kẻ đạo văn, chuyên sử dụng nhiều đoạn trong các phát biểu của Kinnock. Kết quả là Biden buộc phải rời bỏ cuộc đua.

Tuy nhiên, uy tín của ông này trong vai trò một nghị sĩ vẫn không bị ảnh hưởng – hiện Biden vẫn đang là một trong các thượng nghị sĩ có ảnh hưởng nhất tại Mỹ. Về sau này, khi công luận được biết về việc các thành viên trong ban bầu cử của Dukakis đã bí mật trao cuộn băng trên cho các phóng viên, Dukakis đã công khai đứng ra xin lỗi và sa thải ngay những người này.

  • Bánh ít đi, bánh quy lại

Nhưng đến giai đoạn gần đây, những chiến dịch tranh cử lại bắt đầu đầy rẫy những trò “ném bùn” vào nhau. Các ủy ban tranh cử thường xuyên sưu tầm và cung cấp cho giới truyền thông những “tài liệu đen” về đối thủ. Hơn nữa, họ còn thuê mướn các phóng viên ảnh thường xuyên bám sát đối thủ, sẵn sàng ghi lại bất cứ một khoảnh khắc nào được coi là không đẹp.

Những trường hợp tương tự đã xảy ra dưới thời tổng thống Bill Clinton, người bị nhiều thành viên phe Cộng hòa ghét cay ghét đắng. Trong vòng 8 năm cầm quyền, ông đã bị buộc tội không chỉ phản bội vợ, mà còn cả tội gian lận, đánh cắp tiền bạc quốc gia hay thậm chí tổ chức ám sát. Clinton đã phải gọi những thủ đoạn này là “chính sách hủy diệt cá nhân”.

Richard Nixon, tổng thống Mỹ phải từ nhiệm vì vụ Watergate.

Cho đến năm 2000, thủ đoạn bôi nhọ đối phương đã trở thành một phương pháp “chính thống” giúp giành thắng lợi về chính trị. Để chuẩn bị hồ sơ về những chính trị gia đối thủ hay một ứng cử viên nào đó, người ta thường sử dụng các thành viên tình nguyện từ ủy ban tranh cử, thông thường là các sinh viên trường đại học được chỉ đạo từ trên xuống.

Công việc của họ là kiểm tra kỹ lưỡng về quá khứ của ứng cử viên cạnh tranh, cũng như cố gắng tìm ra những ví dụ cho thấy, ông ta đã từng nói và làm trái ngược với những quan điểm được tuyên bố hiện nay.

Hơn nữa, họ còn cố bới móc ra những trường hợp chính trị gia đã vi phạm pháp luật, dù là chuyện nhỏ nhặt nhất như phạm luật giao thông, hay nói và làm điều gì đó không đẹp mắt hay đáng ngờ…

Trong nhiều năm gần đây, những hệ thống kiểu này thường được vận hành khá trơn tru. Nhưng các nhân viên ủy ban tranh cử của Bush còn áp dụng một chiến lược mới – thay cho sinh viên, họ thuê các luật sư có kinh nghiệm tại Washington.

Những thông tin có tính chất tổn hại thanh danh của đối phương sẽ được tuyên truyền dưới đủ mọi hình thức rất tinh vi. Chúng còn thường xuyên được hiệu chỉnh tùy thuộc vào tâm trạng của người Mỹ, vốn được theo dõi rất sát sao qua các cuộc thăm dò ý kiến công luận.

George Bush đã sử dụng trò bôi nhọ từ giai đoạn tranh cử lần trước. Ngay trong thời điểm bầu cử sơ bộ trong nội bộ đảng, các nhân viên ủy ban tranh cử của ông ta đã tiến hành một chiến dịch đặc biệt để chống lại đối thủ cạnh tranh trong nội bộ là John McCain. Ví dụ như họ gọi điện tới các cử tri, tự giới thiệu là nhân viên một hãng nghiên cứu ý kiến công luận.

Trong quá trình trò chuyện, họ đưa ra những câu hỏi lấp lửng kiểu như: “Liệu ngài có bỏ phiếu cho McCain, nếu như biết rằng ông ta đã phản bội vợ mình và có một đứa con ngoài giá thú với một phụ nữ da đen?”. Mặc dù McCain không hề làm điều này, nhưng luật pháp Mỹ vẫn không cấm những câu hỏi kiểu trên – chúng chỉ được đưa ra dưới dạng bàn bạc về các giả thuyết.

Người ta không biết rõ các cử tri đã bị tác động đến mức nào qua những trò “thăm dò ý kiến tương tự”, có điều là Bush đã chiến thắng McCain trong cuộc bầu cử sơ bộ.

Tiếp đó, phe của Bush cũng sử dụng những trò tương tự để đánh bại Al Gore, ứng cử viên từ phe Dân chủ. Các cố vấn của Bush cố tình giới thiệu hình ảnh Gore như một kẻ quan liêu không có tài năng. Rồi họ bắt đầu bôi nhọ Gore như một kẻ ưa thích phóng đại những thành công của mình.

Ví dụ như Gore đã từng tuyên bố, nhờ có sự giúp đỡ của ông ta đã xây dựng một đạo luật, cho phép biến Internet trở thành một hiện tượng văn hóa trên toàn thế giới. Phe Bush đã bóp méo câu nói này, làm cho người ta tưởng rằng Gore đã tuyên bố mình là người nghĩ ra Internet. Phe của Gore cũng không chịu thua kém. Họ cố tình trưng ra hình ảnh Bush như là “một tên ngốc thân thiện”.

Có điều là họ đã chọn sai chiến thuật, khi nhiều người dân Mỹ khi đó lại có cảm tình với mẫu người Texas “đơn giản và mộc mạc” như kiểu Bush.

Còn trong cuộc đua tranh cử năm nay, theo số liệu của hãng phân tích Campaign Media Analysis Group, khoảng 75% số tuyên bố mang tính quảng bá của Bush là có chứa nội dung phê phán John Kerry. Trong khi ở Kerry chỉ có 27% lời phát biểu có nội dung đả kích Bush.

Trong nhiều trường hợp phê phán Kerry còn có không ít những thủ đoạn bôi nhọ. Ví dụ như phe Bush tuyên truyền việc Kerry đã đề xuất việc giảm ngân sách cho tình báo tới 1,5 tỉ đôla, làm ảnh hưởng đến các nỗ lực chống khủng bố của các cơ quan mật vụ.

Trong khi trên thực tế, Kerry chỉ đưa ra một đề xuất kiểu như vậy từ năm 1995 và con số chỉ là 1% ngân sách. Điều đáng nói là ngay sau đó, quốc hội Mỹ (do phe Cộng hòa của Bush chiếm đa số) đã biểu quyết việc giảm ngân sách này tới 3,8 tỉ đôla.

Chuyện “bới móc quá khứ” cũng là một đề tài hấp dẫn của cả hai bên.

Như Kerry bị tố cáo về chuyện ngoại tình, thậm chí cả có quan hệ với tình báo Trung Quốc, còn Bush bị lôi ra chuyện “lính kiểng” khi còn đang tại ngũ.

ĐINH LINH

CÁC TIN KHÁC >>
Cuộc chiến giành giật những... cái tên   (04/07/2004)
Cuộc chạy đua chặng cuối  (02/07/2004)
Từ Mỹ Lai đến Abu Ghraib  (02/07/2004)
Cục diện Iraq: Bài toán dang dở   (30/06/2004)
Những đồng đôla đánh cắp  (29/06/2004)
SAB và việc bảo đảm an ninh hàng không Nga   (28/06/2004)
Căn hầm bí mật nhất nước Mỹ   (27/06/2004)
Kỳ cuối: Chiến tranh dầu hỏa ở Colombia   (25/06/2004)
Bài 2: Những chiến dịch bí mật tại Kazakhstan  (25/06/2004)
Bài 1: Vàng đen và tham nhũng ở Angola   (23/06/2004)
Những vụ ám sát Hitler bất thành  (22/06/2004)
Những phiên tòa đặc biệt ở nước Mỹ  (22/06/2004)
An ninh ở eo biển Malacca?  (21/06/2004)
Nỗi ám ảnh không chỉ riêng Nhật Bản  (18/06/2004)
Euro 2004 : Ám ảnh Hooligan  (17/06/2004)