Hoạt động tình báo
Những kế hoạch nghe trộm
20:59', 6/7/ 2004 (GMT+7)

Một đoạn cáp ngầm dưới biển bị gắn thiết bị nghe trộm trong chiến dịch Ivy Bells.

Vụ bê bối tình báo có tiếng vang lớn nhất gần đây chính là việc Mỹ tổ chức nghe trộm tại trụ sở Liên hợp quốc.

Trước đó không lâu là vụ nhân viên FBI Robert Hanssen bị bắt giữ. Anh ta bị buộc tội hoạt động gián điệp và tiết lộ cho người Nga về đường hầm người Mỹ đã đào phía dưới đại sứ quán nước này. Nhưng để nghe trộm được thông tin mật của đối phương không nhất thiết phải đào hầm.

Các cơ quan tình báo còn có thể áp dụng nhiều biện pháp khác như lắp đặt các chip điện tử, sử dụng chim, chuột để thâm nhập vào vị trí cần khai thác...  

  • Bí mật dưới lòng đất 

Năm 1953, các cơ quan mật vụ phương Tây bắt đầu chiến dịch có mật danh “Gold”, đào một đường hầm từ khu vực của Mỹ tại Tây Berlin xuyên sang phần phía Đông thủ đô CHDC Đức nhằm móc nối vào các đường dây liên lạc bí mật.

Đây chính là những đường dây liên lạc điện thoại, điện báo của đại sứ quán Liên Xô, bộ chỉ huy tối cao quân đội Xô-viết tại Berlin cũng như các cơ quan chính phủ của CHDC Đức.

Đường hầm được xây dựng trong gần 7 tháng và có chiều dài tổng cộng 449m. Nhờ đường hầm này mà trung bình mỗi ngày phương Tây đã ghi lại được tới 1.200 giờ đàm thoại. Tính ra trong vòng 3 năm, họ đã nghe được cả thảy 443 ngàn cuộc điện thoại.

Tuy nhiên, ngay trong giai đoạn thiết kế, thông tin về đường hầm này đã được điệp viên KGB George Blake báo cho phía Liên Xô. Điều đó có nghĩa là những gì người Mỹ thu nhận được trong chiến dịch Gold đều là thông tin giả.

Vào khoảng những năm 1950- 1960, tại khu vực vĩ tuyến 37 giữa biên giới Nam và Bắc Triều Tiên, người ta phát hiện vài chục đường hầm ở độ sâu 100m. Theo giả thuyết của phía Nam Triều Tiên, những đường hầm này dùng để di chuyển quân đội trong thời gian có chiến tranh.

Phía Bắc Triều Tiên khẳng định, những đường hầm này chỉ dùng để khai thác than. Ngày nay, những đường hầm trên đều được ngăn cách bằng các bức tường bê tông và bãi mìn.

Theo nguồn tin từ phía Israel, vào đầu những năm 1960, nhân viên Đại sứ quán Israel tại Moscow đã phát hiện phía dưới tòa nhà cơ quan đại diện ngoại giao nước này một đường hầm do KGB đào bắt đầu từ một biệt thự bên cạnh đó. Qua lối vào này có thể giám sát bằng thiết bị điện tử toàn bộ đại sứ quán cũng như sử dụng để cho người đột nhập vào bên trong. Đường hầm chỉ bị phát hiện khi đại sứ quán chuyển sang một tòa nhà mới. Ngay sau đó, KGB cũng cho lấp kín lối vào.

  • Những chiếc tai nghe trộm tinh vi

Cuốn sách nói về chiến dịch Gold.

Tất nhiên là để nghe trộm, các cơ quan mật vụ không phải chỉ có mỗi cách là chui xuống đất. Họ còn rất nhiều biện pháp khác mà không mấy ai có thể lường tới. Ngày 9-2-1945, các thiếu nhi tại trại hè Arteka đã tặng vị Đại sứ Mỹ Averell Harriman một biểu tượng của Mỹ làm bằng gỗ quý (con đại bàng đầu trắng) nhân dịp ông ta đến dự lễ khánh thành.

Để đáp lại, Harriman đã tặng các thiếu nhi một tấm séc 10 ngàn USD và mang biểu tượng này về treo trong phòng làm việc của mình. Món quà trên đã ngự trị trong căn phòng quan trọng nhất của đại sứ quán Mỹ trong suốt 8 năm và chứng kiến sự thay đổi của 4 vị đại sứ (Harriman, Walter Smith, Elan Kern, George Kennan).

Mãi đến đầu năm 1953, người Mỹ mới phát hiện được trong biểu tượng trên có giấu một thiết bị nghe trộm. Đây được đánh giá là một thiết bị độc nhất vô nhị – con chip điện tử không cần có nguồn nuôi trực tiếp mà hoạt động nhờ tác động của các tín hiệu sóng cực ngắn phát từ xa.

Máy phát và máy thu sóng cực ngắn được lắp đặt tại các tòa nhà cao tầng nằm đối diện đại sứ quán Mỹ. Chiến dịch có mật danh “Xưng tội” này được chính Stalin và Beria trực tiếp chỉ đạo. Theo giả thuyết, người Mỹ phát hiện điều này là nhờ một tên phản bội chạy trốn đã khai báo.

Tháng 10-1971, cơ quan mật vụ Mỹ bắt đầu chiến dịch “Ivy Bells” nhằm gắn thiết bị nghe trộm vào các tuyến đường dây cáp chiến lược liên lạc quân sự của Liên Xô nằm dưới đáy biển. Để nối được vào đường dây nằm dưới đáy biển Okhốt chạy từ Magadan tới Camchatka, người Mỹ đã sử dụng một hệ thống nghe trộm siêu bí mật: một bể chứa dung tích 5m3 có gắn đầy các thiết bị điện tử (cụ thể là 60 máy ghi âm, các hệ thống lọc và khuếch đại tín hiệu).

Những bộ phận cảm biến đặc biệt cho phép thu nhận thông tin từ đường dây cáp được cách ly và bao bọc rất chắc chắn. Người Mỹ đã sử dụng một lò phản ứng nguyên tử nhỏ làm nguồn nuôi cho cả hệ thống.

Hiệu quả của chiến dịch này được đánh giá khá cao vì một nguyên nhân duy nhất: thông tin truyền qua đường cáp ngầm được mã hóa khá đơn giản do phía Liên Xô nghĩ tuyến liên lạc này không thể tiếp cận được. Nhược điểm duy nhất của hệ thống nghe trộm là nó không thể tự mình truyền đi thông tin đã thu nhận được mà chỉ lưu giữ lại.

Cứ vài lần trong một năm, Mỹ lại cho tàu ngầm, robot hay người nhái lặn xuống để lấy kết quả. Đến tháng 11-1981, sau khi những tên đánh cá trộm tình cờ làm đứt đường dây cáp, chiếc tàu sửa chữa của Hạm đội Thái Bình Dương mới phát hiện được các thiết bị nghe trộm.

Theo một giả thuyết khác, chiến dịch “Ivy Bells” đã bị điệp viên KGB tại Cơ quan an ninh quốc gia Mỹ (NSA) là Robert Pelton tiết lộ.

Năm 1972, cơ quan phản gián Xô-viết đã phát hiện 2 thiết bị do thám vô tuyến điện tử có tên “Electron” tại Moscow. Được ngụy trang dưới thân cây, thiết bị có nguồn nuôi riêng này có thể thu nhận được dữ liệu về các phương tiện kỹ thuật vô tuyến, tên lửa phòng không trong thành phần các đơn vị phòng không và phòng thủ chống tên lửa đóng quân xung quanh Moscow.

Sau đó, tín hiệu sẽ được truyền lên vệ tinh hay một máy thu đặt trên ô tô hoặc máy bay. KGB cho biết, những thiết bị trên do cơ quan mật vụ Mỹ lắp đặt.

Năm 1984, người ta phát hiện trong 13 chiếc máy chữ được gửi từ Mỹ tới Đại sứ quán tại Moscow và Lãnh sự quán tại Leningrad có gắn các thiết bị điện tử có thể truyền ngay đi các văn bản đang được đánh.

Một thời gian ngắn trước đó, tháng giêng năm 1983, khi sửa chữa các máy telex của bộ phận mật mã Đại sứ quán Pháp, người ta phát hiện trong các tụ điện có nhiều cơ cấu điện tử được nối với mạng điện bên ngoài.

Đánh giá của cơ quan an ninh Pháp cho biết, những cơ cấu trên đã giúp truyền nhiều văn bản liên lạc của người Pháp tới văn phòng của KGB trong suốt 7 năm.

Đến tháng 8-1945, Bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bố: tòa nhà đang xây dựng của Đại sứ quán Mỹ tại Moscow bị gắn những thiết bị nghe trộm. Công việc xây dựng được ngừng ngay lập tức để các chuyên gia Mỹ kiểm tra. Theo phía Mỹ, nhân viên KGB đã gắn sẵn những con chip điện tử nghe trộm trong gạch và khối bê tông ngay từ nhà máy sản xuất tại Phần Lan. Thượng viện Mỹ sau các buổi điều trần về vấn đề này đã gọi “đây là chiến dịch nghe trộm qui mô và phức tạp nhất trong lịch sử”.

Kết quả là Bộ Ngoại giao Mỹ đã quyết định không sử dụng tòa nhà mới xây cho đại sứ quán. Chi phí để xây dựng lại sau đó đã lên tới hơn 200 triệu USD.

Vào giữa những năm 1990, theo tiết lộ của nhân viên MI-6 Richard Tomlinson, cơ quan mật vụ Anh đã soạn thảo một kế hoạch nghe trộm tại văn phòng cơ quan tình báo đối ngoại LB Nga tại Lisbon. Để lắp đặt các microphone trong hệ thống thoát nước, người Anh đã sử dụng những con chuột bạch có gắn dây dẫn và thiết bị nghe trộm siêu nhỏ.

Người Mỹ cũng đã từng sử dụng động vật cho hoạt động do thám điện tử. Như NSA từng có kế hoạch thả những con chim bồ câu có gắn microphone và ăng ten siêu nhỏ quanh khu vực Đại sứ quán Liên Xô.

Họ dự tính, khi những con bồ câu đậu trên bậu cửa hay các gờ của tòa nhà, NSA có thể nghe trộm được những cuộc đàm thoại trong những căn phòng của đại sứ quán. Tuy nhiên, kết quả của kế hoạch này sau đó đã không được tiết lộ.

Còn CIA lại nghiên cứu khả năng huấn luyện mèo làm gián điệp vào hồi những năm 1960 để chống lại Liên Xô. Dự án có tên “Acoustic Kitty” có nhiệm vụ tìm cách gắn các thiết bị nghe trộm lên mèo để làm nhiệm vụ. Kế hoạch có vẻ rất đơn giản: con mèo sẽ được thả gần đối tượng sao cho có thể thu được các cuộc trò chuyện và phát đi bằng các thiết bị điện tử gắn bên trong.

Sau 5 năm lập kế hoạch và chuẩn bị, chú mèo đầu tiên đã được trang bị đầy đủ các phương tiện (đuôi sẽ đóng vai trò là một cần ăng ten) và được gửi đi thực hiện sứ mạng đầu tiên. Tuy nhiên, con vật tội nghiệp đã bị một chiếc taxi cán chết ngay khi băng qua đường để tiếp cận đối tượng. Dự án này cuối cùng đã bị loại bỏ vì được đánh giá thuộc loại “không thực tế”.

ĐINH LINH

 

CÁC TIN KHÁC >>
Những “Chiến dịch bôi nhọ”   (05/07/2004)
Cuộc chiến giành giật những... cái tên   (04/07/2004)
Cuộc chạy đua chặng cuối  (02/07/2004)
Từ Mỹ Lai đến Abu Ghraib  (02/07/2004)
Cục diện Iraq: Bài toán dang dở   (30/06/2004)
Những đồng đôla đánh cắp  (29/06/2004)
SAB và việc bảo đảm an ninh hàng không Nga   (28/06/2004)
Căn hầm bí mật nhất nước Mỹ   (27/06/2004)
Kỳ cuối: Chiến tranh dầu hỏa ở Colombia   (25/06/2004)
Bài 2: Những chiến dịch bí mật tại Kazakhstan  (25/06/2004)
Bài 1: Vàng đen và tham nhũng ở Angola   (23/06/2004)
Những vụ ám sát Hitler bất thành  (22/06/2004)
Những phiên tòa đặc biệt ở nước Mỹ  (22/06/2004)
An ninh ở eo biển Malacca?  (21/06/2004)
Nỗi ám ảnh không chỉ riêng Nhật Bản  (18/06/2004)