Quảng cáo... quân dịch ở Mỹ
22:13', 7/7/ 2004 (GMT+7)

Chuyên san Government Executive Magazine (Mỹ) cho biết Lầu Năm Góc đã chi hơn 200 triệu USD cho chiến dịch quảng cáo quân dịch nhằm tuyển mộ lính Mỹ bổ sung cho lực lượng quân đội ngày càng mỏng bởi sự dàn quân khắp thế giới…

Chương trình quảng cáo quân dịch còn nhắm vào đối tượng phụ huynh.

Thượng tuần tháng 7-2004, khoảng 5.600 người thuộc thành phần vừa mãn hạn quân dịch nhưng còn trong chế độ dự bị đã được triệu hồi trở lại khoác áo nhà binh. Giới chức quân đội Mỹ cho biết chương trình triệu hồi mang tính tình nguyện này sẽ kéo dài từ tháng 7 đến tháng 9-2004.

Đây là hoạt động kêu gọi quân dự bị lớn nhất kể từ cuộc chiến vùng Vịnh 1991. Không như lính Cảnh vệ quốc gia và lính dự bị chính thức, lính giải ngũ nhưng còn trong chế độ dự bị không tham gia huấn luyện thường xuyên và cũng không có lương, trừ khi họ được tái gia nhập quân ngũ.

Cùng lúc, Lầu Năm Góc cũng tung chiến dịch hô hào thanh niên tòng quân tại các trường đại học, với sự hợp tác của nhiều tổ chức xã hội. Chương trình của Lầu Năm Góc tốn đến hàng trăm triệu đôla cho công tác nghiên cứu, phân nhóm và tiếp thị chiến dịch để làm thế nào có thể tiếp cận được thanh niên. Nỗi lo thiếu quân không phải không nghiêm trọng.

Bộ binh dự kiến tuyển 78.950 lính; hải quân 55.000 lính; không quân 34.600 lính; thủy quân lục chiến 32.700 lính. Để đáp ứng chỉ tiêu, sĩ quan tuyển quân phải phóng xe hàng trăm dặm, kể cả ngày nghỉ cuối tuần, nhằm tổ chức các buổi nói chuyện với giới trẻ về hình ảnh “đầy tự hào” của người lính thời chống khủng bố toàn cầu. 

Trong chiến dịch lần này, quân đội Mỹ đã áp dụng công trình nghiên cứu của thiếu tá thủy quân lục chiến Andrew Wilcox về tâm lý giới trẻ, nhan đề Recruiting the Next Generation: A Study of Attitudes, Values and Beliefs (Tuyển mộ thế hệ kế tiếp: Một nghiên cứu về thái độ, giá trị và niềm tin).

Andrew Wilcox đã tập trung vào 36 nhóm đối tượng tại 6 bang và phỏng vấn gần 700 sinh viên. Andrew Wilcox cũng đề nghị sự hợp tác từ Hollywood để tung những bộ phim tuyên truyền, khuếch đại hình ảnh anh hùng của quân nhân Mỹ. Trong nghiên cứu, Andrew Wilcox cho biết hải quân có sức hấp dẫn chỉ sau không quân, đặc biệt đối với giới nữ. 

Theo cách dùng từ của Katherine McIntire Peters viết trên Government Executive Magazine, Lầu Năm Góc đang xây dựng hình ảnh họ như một “thương hiệu” để hấp dẫn giới trẻ và họ cũng đã chi hơn 270 triệu USD (gấp đôi năm 1995) để đánh bóng hình ảnh chiến binh Mỹ thời hiện đại.

Cả không quân cũng như hải quân đều dựng kế hoạch quảng cáo mới, trong đó có chiến dịch quảng cáo trên trang web riêng. Chỉ thủy quân lục chiến là trung thành với chiến dịch quảng cáo cũ: “Những kẻ tinh lọc. Những kẻ kiêu hãnh. Đó là thủy quân lục chiến”.

Thủy quân lục chiến nhấn mạnh ý tưởng rằng họ là một câu lạc bộ độc đáo và chỉ dung nạp những thành viên độc đáo. “Nếu bạn quan tâm đến sự khuất phục tư tưởng và dám đối mặt thách thức chấn động; nếu bạn sẵn lòng để sự can đảm được thử thách, ồ, chỉ thủy quân lục chiến mới đem lại cho bạn những điều đó mà thôi”.

Trong khi đó, không quân tung chiến dịch “Aim High” (Hướng lên cao) trong khuôn khổ chương trình chiêu binh “America’s Air Force—No One Comes Close” (Không quân Hoa Kỳ – Không ai dám đến gần). Và với hải quân, chiến dịch quảng cáo của họ nghe như chiêu tiếp thị của một công ty du lịch, với chủ đề “Let the Journey Begin” (Hãy để cuộc hành trình bắt đầu nhé). 

Một buổi huấn luyện của các tân binh.

Phần quân đội (bộ binh), họ đã tạo ra một chiến dịch quảng cáo gây nhiều tranh cãi. Sau gần 20 năm trung thành với khẩu ngữ quảng cáo “Be All You Can Be” (Hãy là tất cả những gì bạn có thể), bộ binh đã tung ra chiến dịch mới mang tên “Army of One” (Đạo quân hợp nhất).

Trong clip quảng cáo của bộ binh, có cảnh một lính Mỹ đơn thương độc mã phóng trên sa mạc, cùng hàng chữ: “Sức mạnh của bộ binh nằm trong tôi. Tôi là đạo quân hợp nhất”. Với hầu hết lính thật, họ cho rằng hình ảnh cậu lính trẻ chạy thục mạng một mình trong sa mạc thật ra trông hệt như một tên đào ngũ và còn có thể là mục tiêu ngon xơi của kẻ thù!

Tuy nhiên, bộ binh vẫn duy trì chiến dịch quảng cáo này, vì nó “gợi lên sự can đảm” – theo lời đại tá Kevin Kelley, giám đốc chương trình quảng cáo và tiếp thị của Trung tâm tuyển mộ bộ binh – nhằm thu hút sự chú ý của đối tượng từ 17 tới 21 tuổi.

Nghiên cứu của RAND và công ty quảng cáo Leo Burnett (Chicago) – nơi chịu trách nhiệm thực hiện chiến dịch “Army of One” – cho biết, “Be All You Can Be” đã quá xưa, không có sinh khí và không thể tiếp cận giới trẻ Mỹ ngày nay, trong khi “chúng tôi cần xây dựng một thương hiệu cho quân đội” – Kevin Kelly nói. Cùng lúc, Lầu Năm Góc cũng tập trung vào giới phụ huynh.

Steve Sellman – giám đốc chính sách tuyển quân Bộ Quốc phòng Mỹ – nói rằng việc gây ảnh hưởng cho phụ huynh có vai trò rất quan trọng. Lầu Năm Góc đã in quảng cáo phát cho nhiều hộ gia đình có con em ở tuổi quân dịch. Trang quảng cáo in hình gia đình Mỹ đứng cạnh các cậu con trai và con gái trong quân phục, cùng chú thích: “Cậu ấy/chị ấy không phải là con tôi mà là người hùng của tôi”. Bộ Quốc phòng còn kêu gọi trợ giúp và thậm chí thuê vài tổ chức dân sự chuyên thu thập giấy khai sinh, trả lời điện thoại, tư vấn và in ấn chương trình tuyển mộ… 

Ở thời điểm này, Lầu Năm Góc cũng không chắc về tính hiệu quả của chiến dịch tuyển quân mới. Thực tế cho thấy, Bộ Quốc phòng Mỹ không thể không tuyển thêm quân, trong tình hình quân đội Mỹ ngày càng mỏng. Với 140.000 quân ở Iraq, 34.000 quân tại Kuwait, 10.000 tại Afghanistan, 37.000 tại Hàn Quốc…, quân đội Mỹ đúng là đang cạn quân số.

Lần đầu tiên trong gần 40 năm, kể từ cuộc chiến Việt Nam, giới chức Lầu Năm Góc mới bàn đến việc nâng quân số – điều mà Bộ trưởng Quốc phòng Donald H. Rumsfeld từng phản đối và cho rằng chiến thuật và quân cụ hiện đại mới là sự cần thiết tối thượng cho quân đội Hoa Kỳ.

Cần nhắc lại, trước khi tấn công Iraq, tướng Peter Schoomaker (tham mưu trưởng bộ binh Mỹ) từng nhấn mạnh việc đưa quân nhiều hơn sang Iraq để bình ổn cục diện phức tạp sau chiến tranh nhưng Lầu Năm Góc đã gạt ngang. Tháng 8-2003, Văn phòng tổng kiểm toán Hoa Kỳ (GAO) từng cảnh báo rằng “sự giải quyết các sứ mạng hiện tại đang kéo căng lực lượng quân đội Mỹ” và nếu không điều chỉnh “quân đội Mỹ có thể bị ăn mòn khả năng tác chiến và điều này sẽ ảnh hưởng cho tương lai quân đội Hoa Kỳ”.

Cần nói thêm, kể từ giai đoạn đỉnh điểm cuộc chiến Việt Nam năm 1968, quân số Mỹ đã giảm từ 3,5 triệu người xuống còn 1,4 triệu thời điểm hiện tại và bộ binh (thành phần nòng cốt trong các sứ mạng bình ổn tình hình trong thời gian dài) đã giảm từ 1,6 triệu lính năm 1968 xuống còn 480.000 hiện nay. Tổng thống George H. Bush (Bush cha) đã giảm số sư đoàn bộ binh từ 18 còn 14 rồi Tổng thống Bill Clinton giảm tiếp còn 10… 

LÊ THẢO CHI

CÁC TIN KHÁC >>
Những kế hoạch nghe trộm   (06/07/2004)
Những “Chiến dịch bôi nhọ”   (05/07/2004)
Cuộc chiến giành giật những... cái tên   (04/07/2004)
Cuộc chạy đua chặng cuối  (02/07/2004)
Từ Mỹ Lai đến Abu Ghraib  (02/07/2004)
Cục diện Iraq: Bài toán dang dở   (30/06/2004)
Những đồng đôla đánh cắp  (29/06/2004)
SAB và việc bảo đảm an ninh hàng không Nga   (28/06/2004)
Căn hầm bí mật nhất nước Mỹ   (27/06/2004)
Kỳ cuối: Chiến tranh dầu hỏa ở Colombia   (25/06/2004)
Bài 2: Những chiến dịch bí mật tại Kazakhstan  (25/06/2004)
Bài 1: Vàng đen và tham nhũng ở Angola   (23/06/2004)
Những vụ ám sát Hitler bất thành  (22/06/2004)
Những phiên tòa đặc biệt ở nước Mỹ  (22/06/2004)
An ninh ở eo biển Malacca?  (21/06/2004)