Sở Khoa học và Công nghệ (KH-CN) TPHCM vừa công bố kết quả đánh giá trình độ công nghệ sản xuất của doanh nghiệp (DN) trên địa bàn thành phố. Kết quả khiến những người quan tâm phải giật mình: Trong số gần 630 DN được khảo sát, chỉ có 1% DN có trình độ công nghệ sản xuất hiện đại.
Đâu là căn cứ để đưa ra khẳng định trên? Ông Phan Minh Tân, Giám đốc Sở KH-CN TPHCM cho biết, để đánh giá trình độ công nghệ sản xuất của DN, phải dựa trên các tiêu chí về thiết bị, tổ chức, nhân lực và thông tin. Theo đó các mức đánh giá là yếu, trung bình, trung bình khá, khá và tiên tiến.
Trước khi đưa ra kết luận trên, sở đã tiến hành 2 cuộc khảo sát bắt đầu từ tháng 11-2007 với 831 DN, khảo sát đợt 2 là 630 DN trong nước và DN có yếu tố nước ngoài thuộc 17 ngành khác nhau. Nhìn chung, trình độ công nghệ các DN đạt mức yếu chiếm đa số. Trong đó tập trung chủ yếu ở khâu tổ chức và trình độ nhân lực, chiếm gần 80%.
Dây chuyền sản xuất bút bi Thiên Long. Ảnh: Đức Trí
Trình độ công nghệ sản xuất lạc hậu sẽ dẫn đến những hệ lụy đi kèm như lãng phí năng lượng, gây ô nhiễm môi trường, hiệu suất sản xuất thấp… Ấy thế mà kết quả khảo sát đã đưa ra những con số đáng để cơ quan chức năng phải lo ngại. Đối với những DN ngoài khu chế xuất, khu công nghiệp có đến 60% DN đầu tư thiết bị đã qua sử dụng.
Trong đó, có đến 81% thiết bị có tuổi thọ trên 10 năm; trên 22% thiết bị dây chuyền không đồng bộ; ít nhất 2% thiết bị cần thay mới hoàn toàn; 25% thiết bị cần phải được đại tu và nâng cấp; 15% dây chuyền cơ khí và thủ công.
Về đầu tư nghiên cứu ứng dụng, chỉ có 25 DN trong nước và 14 DN nước ngoài trên tổng số 630 DN có đầu tư cho nghiên cứu ứng dụng, chiếm 5,8%. Mặt khác, chi phí mà các DN dành cho đầu tư cho nghiên cứu ứng dụng cũng rất hạn chế, chiếm khoảng 4% tổng chi phí hàng năm. Tính trong 3 năm trở lại đây, tổng kinh phí nghiên cứu ứng dụng của 39 DN trên chỉ khoảng gần 80 tỷ đồng.
Việc đầu tư cho trình độ nhân lực còn thấp hơn rất nhiều. Cụ thể, xấp xỉ 11% nhân lực có trình độ trên trung học phổ thông. Trong đó chỉ có 6% có trình độ đại học trở lên; 30% nhân sự được đào tạo bồi dưỡng hàng năm. Còn về lĩnh vực môi trường, 25% doanh nghiệp có quy trình sản xuất gây ô nhiễm môi trường và chỉ có 30% DN nghiêm túc thực hiện các biện pháp quản lý môi trường hàng năm. Về đầu tư đổi mới công nghệ thì có khoảng 50% DN có đầu tư mua sắm trang thiết bị công nghệ mới nhưng tỷ lệ đầu tư đổi mới công nghệ trung bình chiếm 11% tổng chi phí hàng năm của doanh nghiệp.
Không dừng lại đó, trình độ công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp trong khu chế xuất, khu công nghiệp còn thấp hơn rất nhiều. Tập trung chủ yếu ở các ngành sử dụng nhiều lao động như may, thủy tinh, nữ trang, sản xuất vật liệu xây dựng, da giày. Tỷ lệ DN có trình độ công nghệ ở mức yếu chiếm 60% – 70%. Ngoài ra, nếu xét đến yếu tố đồng bộ thì có 29% dây chuyền sản xuất hoàn toàn đồng bộ, 68% dây chuyền tương đối đồng bộ và 3% là dây chuyền không đồng bộ, thậm chí chắp vá.
Hơn nữa, phần lớn công nghệ sản xuất của DN có nguồn gốc xuất xứ từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ chiếm 79% nên chất lượng không cao. Còn thiết bị nhập từ Mỹ, châu Âu, Nhật Bản chỉ chiếm khoảng 18%. Điều đáng nói là trình độ học vấn của lao động trong khu chế xuất khu công nghiệp ở mức đáng báo động. Tỷ lệ nhân công có trình độ sau đại học thấp hơn 1%, trình độ đại học cao đẳng đạt 9% trung học chuyên nghiệp chiếm 8% và lao động phổ thông chiếm đa số với 39%, công nhân qua qua đào tạo chiếm 44%.
Trước thực trạng trên, theo đánh giá của Sở KH-CN TPHCM, rào cản lớn nhất để đổi mới công nghệ của các DN là thiếu nhân lực trình độ; thiếu vốn đầu tư; thiếu thông tin và cơ hội tiếp xúc các nguồn thông tin. Do đó, mối quan tâm cần thiết và cấp bách trước mắt của các DN là nâng cao năng lực của lực lượng lao động. Tuy nhiên, khảo sát cho thấy phần lớn các DN tập trung quan tâm hàng đầu vào chất lượng sản phẩm, giảm chi phí và xây dựng thương hiệu mạnh… Vậy đâu là hướng ra cho việc phát triển, nâng cao trình độ công nghệ sản xuất của các DN?
ÁI VÂN – THANH HÙNG