Chỉ số hoạt động thu hút FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài) của Việt Nam chỉ đứng thứ 50/144 nước – đó là công bố mới nhất của Cơ quan Phát triển Liên hợp quốc (UNCTAD) ngày 23-9-2004, căn cứ vào các kết quả khảo sát 3 năm một lần. Con số này nói lên điều gì về môi trường đầu tư Việt Nam?
|
| Sản xuất vòi nước của công ty Wufeng, Đài Loan tại KCX Lê Minh Xuân |
Chỉ số hoạt động thu hút FDI của Việt Nam (VN) chỉ đứng thứ 50 và chỉ số tiềm năng thu hút FDI đứng thứ 75/144 nước trên thế giới.
|
Theo kết quả phân tích của UNCTAD, đã có một sự chuyển hướng rõ rệt trong dòng FDI trên thế giới, từ đầu tư sản xuất đang nghiêng mạnh về dịch vụ. Hiện nay khu vực dịch vụ chiếm tới 60% giá trị FDI toàn cầu (ước tính khoảng 4.400 tỷ USD). Nổi bật là các dịch vụ về điện, viễn thông, nước và các dịch vụ kinh doanh khác. (Từ 1990 –2002, FDI đổ vào ngành điện, nước, gas trên toàn thế giới tăng từ 10 tỷ USD lên trên 144 tỷ USD; lĩnh vực viễn thông, kho bãi, vận tải tăng từ 29 tỷ USD lên 476 tỷ USD). |
Trong khi đó, theo Báo cáo của UNCTAD, làn sóng FDI đang đổ về châu Á với giá trị năm 2003 vào khoảng 107 tỷ USD và tiếp tục trong năm 2004 là đầy hứa hẹn. Đặc biệt là đầu tư trong nội bộ khu vực đang tăng lên, một phần do xu hướng nhà đầu tư muốn chuyển dịch sản xuất từ những nơi có chi phí cao sang nơi có chi phí thấp.
UNCTAD ghi nhận VN đã nắm bắt được xu thế chuyển dịch vốn FDI vào khu vực dịch vụ nên Chính phủ đã hoạch định chính sách quốc gia trên lĩnh vực này, trong đó nhấn mạnh 7 ngành cần phát triển mạnh, trong đó có cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin, điện, y tế, nước…
Các chuyên gia UNCTAD cho biết, ngành dịch vụ then chốt nào của VN cũng có chiến lược phát triển riêng, nhưng lại thiếu sự gắn kết, để các nhà hoạch định chính sách đưa ra quyết định tổng thể một cách phù hợp. Vì vậy, thực tế, tỷ trọng đóng góp của dịch vụ đối với tăng trưởng kinh tế ở VN đang bị tụt hậu so với các nước (38% so với 50%-70%). Các nhà đầu tư Nhật tại VN cho rằng, đúng là VN đã nỗ lực và liên tục cải cách môi trường đầu tư như đơn giản khâu cấp phép, giảm chi phí kinh doanh… nhưng các vấn đề về thuế, hải quan, sự thay đổi chính sách liên tục và không nhất quán đang làm nhiều nhà đầu tư lo ngại.
Một điển hình là chương trình thí điểm mở rộng công năng cho Khu Chế xuất Tân Thuận, thời hạn 2 năm thí điểm sắp trôi qua trong khi các chính sách để triển khai cho lĩnh vực mở rộng công năng vẫn đang còn chờ hướng dẫn. Quyết định thí điểm chuyển đổi cổ phần hóa các công ty vốn FDI phải mất hơn 1 năm mới có 6 công ty được cho phép. Sự thay đổi thuế thu nhập doanh nghiệp từ năm 2004 không khuyến khích nhà đầu tư đổ thêm vốn FDI vào VN vì cùng 1 nhà đầu tư, nhưng dự án cũ thuế ưu đãi khác, dự án mở rộng ưu đãi thấp hơn. Thủ tục sau cấp phép vẫn rất nhiêu khê, nhất là khâu giao đất triển khai dự án.
Dưới tiêu đề “Các nước Đông Á phải đối mặt với nạn tham nhũng làm mất cơ hội tăng trưởng”, ngày 8-9-2004, Ngân hàng Thế giới (WB) đã công bố một bản báo cáo về kết quả điều tra môi trường kinh doanh tại 145 quốc gia trên thế giới.
Điều đáng buồn là trong khi Thái Lan, Malaysia, Singapore được lọt vào những vị trí cao về môi trường kinh doanh thuận lợi thì VN lại nằm trong số những nước bị xếp hạng cuối.
Báo cáo của WB cũng nhấn mạnh trong khi ở những nước phát triển, chi phí khởi nghiệp để hoạt động kinh doanh chỉ mất 8% trên thu nhập đầu người, cho 6 quy trình và 27 ngày, thì tại các nước Đông Á, chi phí này chiếm đến 45% -60% trên thu nhập đầu người, kéo dài tới 9 quy trình và mất 61 ngày. Cũng theo WB, ở các nước phát triển, nhà kinh doanh có đến 10 thương quyền tiếp cận các nguồn tài chính khi đi vay, trong khi ở VN và Trung Quốc có chưa tới một nửa những thương quyền đó.
Những kết quả điều tra trên đây đang chứng minh một thực tế hiển nhiên: chúng ta đang bị các nước trong khu vực bỏ một khoảng cách khá xa trong nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, đầu tư.
THU THỦY |