Ngày 30-5, Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) cùng Câu lạc bộ Xây dựng thương hiệu nông sản và Hiệp hội Lương thực Việt Nam tổ chức hội thảo “Gạo - chất lượng, thị trường và thương hiệu” với sự tham gia của các tỉnh vùng ĐBSCL và công ty xuất khẩu gạo trong khu vực.
Bà Nguyễn Thị Nguyệt, Tổng Thư ký Hiệp hội Lương thực cho biết, qua 17 năm xuất khẩu, gạo Việt Nam có mặt khắp thị trường thế giới, số lượng tăng dần hàng năm và đạt cao nhất về số lượng với 4,5 triệu tấn (năm 1999, trị giá trên 1 tỷ USD), riêng năm 2004, xuất 4,062 triệu tấn, đứng thứ 2 thế giới.
Tỷ trọng gạo xuất khẩu Việt Nam trong tổng số lượng gạo bán buôn trên thế giới tăng từ 8,2% (năm 1991) lên 16% (năm 2004). Điều đáng chú ý là thị trường xuất khẩu chủ yếu của gạo Việt Nam là châu Á, chiếm 50%, nhưng những nước này đang đầy mạnh sản xuất trong nước, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, làm tăng năng suất và sản lượng, giảm dần nhập khẩu gạo trắng các loại.
Vì vậy, theo nhận định, Việt Nam phải nâng cao chất lượng gạo trắng các loại và tăng nhanh chủng loại, nhất là gạo thơm để đáp ứng nhu cầu thị trường và nâng cao giá trị xuất khẩu.
|
|
|
Thương hiệu Vina Golden Rice, gạo thơm thượng hạng xuất khẩu của Công ty Tấn Hưng (Bình Chánh TPHCM). |
Ông Huỳnh Tiến Dũng, Giám đốc Kinh doanh Công ty TNHH Minh Cát, một trong những đơn vị đi đầu trong việc xây dựng thương hiệu gạo với tên gọi gạo Kim Kê cho biết, xu hướng tiêu dùng thế giới là mua gạo đóng gói với thương hiệu rõ ràng, nhưng người tiêu dùng Việt Nam chưa có thói quen này.
Vậy làm gạo đóng gói và xây dựng thương hiệu cho gạo tại Việt Nam có cần thiết chưa, liệu có thể làm thay đổi thói quen người tiêu dùng? Để trả lời câu hỏi này, công ty phải nghiên cứu và khảo sát thị trường. 100% mẫu điều tra cho rằng, nếu có gạo thương hiệu rõ ràng thì người tiêu dùng sẽ mua loại gạo này.
Với khẩu hiệu “bữa cơm ngon cho gia đình hạnh phúc”, gạo Kim Kê được tung ra thị trường. Sau hơn một năm, người tiêu dùng đã biết và sử dụng gạo Kim Kê ngày càng nhiều.
Bà Trần Ngọc Sương, Giám đốc Nông trường Sông Hậu (Sohafarm) cho rằng, sản phẩm các loại nông sản của nông trường xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới, được khách hàng nước ngoài đánh giá cao, nhưng đối với thị trường trong nước, sản phẩm của Sohafarm như “cô gái đẹp không biết nói”.
Vì mãi lo xuất khẩu, nông trường quên mất thị trường nội địa, vốn được xác định là thị trường tiềm năng rất lớn về gạo chất lượng cao nên không ai biết đến. Và để lắp khoảng trống này, hiện nông trường với dự hỗ trợ của Câu lạc bộ Xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam đang gấp rút xây dựng thương hiệu gạo các loại, như gạo thơm, gạo hoa sữa, gạo hoa hồng.
|
|
Nông dân xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước, tỉnh Long An thu hoạch lúa Nàng Thơm chợ Đào. |
Theo Tiến sĩ Bùi Chí Bữu, Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCl, so với cây ăn trái, việc xây dựng thương hiệu gạo tương đối dễ dàng hơn do gạo có lượng hàng hóa lớn, tập trung tại vùng ĐBSCL. Về mặt kỹ thuật, hạt gạo dài, không bạc bụng đã được giải quyết, giống lúa chủ lực cho xuất khẩu cũng đã được xác định.
Ông Trương Thanh Phong, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho rằng, nhất thiết phải có thương hiệu gạo Việt Nam, không chỉ cho thị trường trong nước mà phải chuẩn bị cho nhu cầu hội nhập. Tuy nhiên, xây dựng thương hiệu gạo coi dễ mà lại khó, đòi hỏi phải kiên trì, có thời gian và nỗ lực chung.
Để đưa gạo có thương hiệu Việt Nam ra thị trường nước ngoài phải mất nhiều chi phí, công sức. Thế nhưng khi khách hàng bắt đầu quen sản phẩm, chúng ta lại không thể cung cấp đều đặn và thường xuyên. Đó là lý do vì sao 5 tháng đầu năm 2005, lượng gạo thơm xuất khẩu chỉ đạt 22.000 tấn, cả năm chỉ hy vọng đạt 50.000 tấn do chất lượng không đảm bảo!
Giáo sư, Tiến sĩ Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang, kiêm Chủ tịch CLB Xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam cho rằng, gạo Việt Nam từng có lúc xuất khẩu với giá 300 USD/ tấn (gạo Việt Mỹ), điều đó chứng tỏ, khi gạo có thương hiệu với quy trình chặt chẽ, bài bản vẫn bán được giá cao.
Để xây dựng thương hiệu gạo đòi hỏi phải có sự gắn bó giữa doanh nghiệp xuất khẩu và hợp tác xã nông nghiệp các địa phương. Qua đó, xây dựng vùng nguyên liệu với từng doanh nghiệp xuất khẩu hoặc phân phối trong nước; nghiên cứu quy trình sản xuất chất lượng cao; huấn luyện nông dân theo đúng quy trình cho từng chủng loại giống, có chiến lược thị trường rõ ràng với từng bước đi cụ thể.
ĐÔNG NGHI |