Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vựa lúa hàng hóa, chiếm trên 50% sản lượng lúa và hơn 90% lượng lúa xuất khẩu cả nước. Vấn đề lao động thời vụ cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lao động thu hoạch lúa trở nên khan hiếm trước việc hình thành các khu công nghiệp, thu hút một lượng lớn lao động trẻ vùng nông thôn. Vì vậy, cơ giới hóa (CGH) nông nghiệp là một yêu cầu bức bách.
- Thời điểm phải cơ giới hóa
Tiến sĩ Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL cho biết, CGH không chỉ làm giảm giá thành sản xuất mà còn giúp thu hoạch đúng thời điểm để giảm thất thu, tăng chất lượng hạt gạo. Vấn đề CGH càng trở nên bức bách hơn trong 2 năm qua, khi thời vụ thu hoạch tập trung từ chủ trương gieo sạ tập trung và đồng loạt trên các vùng lúa để né sâu bệnh (rầy nâu, virus bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá). Hơn nữa, việc xuất hiện nhiều vùng chuyên canh lúa từ việc hợp tác sản xuất và ngày càng có nhiều nông hộ với diện tích sản xuất lên vài chục đến cả trăm hécta.
Theo số liệu của Cục Chế biến thương mại nông lâm sản và nghề muối (Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn), so với cả nước, CGH sản xuất nông nghiệp vùng ĐBSCL tăng khá nhanh, một số khâu có tỷ lệ sử dụng máy móc khá cao như tuốt đập, xay xát lúa (đạt 90% - 95%), làm đất (85%), tưới tiêu (81%), vận chuyển (gần 80%), sấy lúa cho vụ hè-thu (38%), nhưng khâu quan trọng nhất là thu hoạch, mới có khoảng 20% diện tích lúa. Trước đây vùng ĐBSCL có khoảng 1.000 máy gặt lúa loại rải hàng, nhưng chưa thể đảm bảo nhu cầu sản xuất lúa hàng hóa, nhất là tính thời vụ. Ưu điểm của loại máy này là gọn nhẹ, dễ vận hành, tỷ lệ hao hụt thấp, thích hợp với những lô ruộng diện tích vừa và nhỏ, giá máy thấp. Nhưng nhược điểm là năng suất không cao (1 – 1,5ha/ngày), khi gặt sáng sớm rạ còn ẩm hoặc lúa bị đổ ngã, tốn thêm công thu gom lúa, người vận hành phải đi bộ trên ruộng.
Trong tình hình thiếu lao động thu hoạch ngày càng trầm trọng, giá nhân công lao động thời vụ tăng mạnh (từ 0,5 triệu đồng - 0,7 triệu đồng/ha lên 1,2 triệu đồng - 1,7 triệu đồng/ha), nhiều địa phương nhận định, việc sử dụng máy gặt đập liên hợp được xem là giải pháp hữu hiệu nhất trong bối cảnh hiện nay và làm giảm đáng kể thất thoát sau thu hoạch, giúp tăng lợi nhuận cho bà con. Theo Trung tâm Khuyến nông quốc gia, hiện nay có khoảng 1.000 máy gặt đập liên hợp (GĐLH), trong đó, Kiên Giang và An Giang có 200 máy/tỉnh, Long An 100 máy, còn lại thuộc các tỉnh khác trong vùng. Với số máy này chỉ giải quyết được khoảng 10% diện tích lúa thu hoạch.
- Để cơ giới hóa hiệu quả
Ưu điểm của máy GĐLH là rút ngắn 3 công đoạn (gặt, thu gom, đập) làm thành một để giảm hao hụt, năng suất cao, thu hoạch nhanh (3 người/máy thay thế khoảng 150 lao động), đảm bảo tính thời vụ... Nhưng máy GĐLH có không ít nhược điểm như: cồng kềnh, khó vận hành ở các lô ruộng nhỏ, nhất là mặt đồng ẩm ướt lầy thụt, đường giao thông nông thôn kém, khó di chuyển máy.
Tiến sĩ Lê Văn Bảnh cho rằng, để hỗ trợ cho việc CGH, đặc biệt là khâu thu hoạch, không chỉ là vấn đề máy móc, thiết bị mà còn phải tiến hành đồng bộ nhiều khâu khác nhằm hỗ trợ cho việc CGH thành công. Trong đó, đường giao thông thủy bộ cần phải thuận tiện cho máy móc di chuyển từ đồng này sang đồng kia, chủ động rút nước làm khô mặt ruộng trước lúc thu hoạch, có thời gian cày phơi ải tạo tầng đế cày và cần có mặt ruộng tương đối bằng phẳng. Gieo theo hàng hoặc cấy giúp lúa có bộ rễ tốt hơn, làm giảm sự đổ ngã. Không nên sạ dày, bón phân hợp lý, có thời gian rút nước xen kẽ, tạm thời sau thời kỳ đẻ nhánh để tạo điều kiện cho rễ phát triển, ăn sâu hơn...
Như vậy, tùy đồng ruộng để chọn giải pháp thu hoạch thích hợp (gặt thủ công, dùng máy gặt rải hàng hay GĐLH) đồng thời tùy mùa vụ (đông-xuân hay hè-thu), điều kiện mặt đồng, diện tích lô ruộng… mà chọn loại máy GĐLH thích hợp. Máy GĐLH của một số cơ sở sản xuất trong nước tuy giá có thấp nhưng công nghệ chế tạo kém, chất lượng chưa đảm bảo, lượng sản xuất còn hạn chế. Một số máy nhập từ nước ngoài chất lượng tốt nhưng vẫn còn một số điểm chưa phù hợp, giá máy còn cao
CÔNG PHIÊN
Hội thi máy gặt đập liên hợp vùng ĐBSCL |