-PV: Thưa nhà thơ Nguyễn Hoàng Sơn, lâu nay có nhiều nhà văn, nhà báo, nhà giáo dục thường than phiền rằng “văn hóa đọc” đang suy giảm, rằng trẻ em càng ngày càng thờ ơ với sách văn học, ông có nghĩ như vậy không?
-Trước đây, đọc sách dường như là thú vui duy nhất của người “có học”. Bây giờ thì trật tự đã được lập lại. Sách (và người làm ra sách) phải cạnh tranh với báo chí, tivi, với Internet, với trò chơi điện tử để giành giật phần thời gian rỗi ít ỏi của đứa trẻ và con người hiện đại nói chung. Đây là một bước nhảy vọt của cuộc sống Việt Nam, một may mắn lớn cho thế hệ trẻ, tại sao phải than thở?
Nếu sách văn học bị bỏ rơi, trước hết đó là lỗi của những người làm sách, họ đã không thích ứng được với thời đại. ấy là lo xa vậy thôi, các siêu thị sách vẫn thi nhau mọc lên khắp Bắc Trung Nam, họ bán sách cho ai nếu không có người đọc?
Rồi thì báo chí, từ mươi tờ báo chung một giọng thời nào nay cả nước có gần ngàn đầu báo và tạp chí, báo nào cũng đòi ra thêm phụ trương, từ đó mà suy ra thì “văn hóa đọc” đang bành trướng chứ đâu có suy giảm? Tóm lại, các em đã đọc, đang đọc và sẽ đọc, đọc nhiều là khác, chỉ có điều là đọc gì và đọc như thế nào mà thôi.
-Sách văn học hình như ngày càng lép vế? Những cuốn sách được giải cao trong các cuộc thi sáng tác cho thiếu nhi, được ban giám khảo khen ngợi nhưng cũng chỉ dám in một, hai ngàn bản mà tốc độ bán vẫn chậm lắm?
-Sách văn học thực thụ thì thời nào cũng kén người đọc, không chỉ ở nước ta mà trên thế giới cũng vậy. Mác-xen Proust với kiệt tác “Đi tìm thời gian đã mất” được học giả Nguyễn Hiến Lê gọi là “Thiên tài ít người đọc nhất”. Dôxtoievski cũng vậy. Nam Cao không lọt được vào bảng “phong thần” “Nhà văn hiện đại” của Vũ Ngọc Phan nhưng tuổi thọ của văn ông lại dài hơn bất cứ vị nào có tên trong sách ấy. Tôi đoán “Dế mèn phiêu lưu ký” in lần đầu có lẽ chưa đến một ngàn bản, nay thì cùng một lúc ba nhà xuất bản xin phép in lại. Nói văn học kén người đọc, không có nghĩa là phó mặc số phận của các cuốn sách cho thị hiếu của công chúng.
Các nhà phê bình cần phải vào cuộc. Từ hồi đổi mới đến giờ, sách ra càng nhiều thì nhà phê bình càng... ít, riêng lĩnh vực sách cho thiếu nhi thì có thể nói là hoàn toàn vắng bóng? Đó là một điều không bình thường. Theo tôi, các nhà xuất bản của giới trẻ, cụ thể là Nhà xuất bản Kim Đồng và Nhà xuất bản Trẻ..., cần phải có ít ra là một nhà phê bình chuyên nghiệp trong biên chế của mình. Sách hay chưa đủ, còn phải biết tiếp thị và quảng cáo nữa, thời buổi thị trường mà.
Tại sao lại không nghĩ đến một tờ báo hoặc tạp chí riêng của một cơ sở xuất bản nhỉ? Trong khi chờ đợi điều đó thì hãy tận dụng cho tốt các phương tiện thông tin đại chúng đã có, nhất là các kênh tivi. Các nhà xuất bản cần “mua sóng” để khoe sách của mình chứ. Hãy học các nhà buôn trong các lĩnh vực khác, chẳng hạn chương trình “Chọn giá đúng” trên VTV3, tôi cam đoan là họ có bỏ tiền, mà nhiều kia đấy. Tất nhiên sách đưa lên tivi phải là sách hay.
-Ông có vẻ là người lạc quan trong chuyện đi tìm người đọc... giúp các nhà xuất bản? Nhưng ở khâu đầu tiên của “dây chuyền” thì sao, tôi muốn nói về thực lực của các nhà văn chuyên viết cho thiếu nhi hiện nay?
-Những người cầm bút viết cho các em bây giờ đông hơn trước, tài năng thì khó so sánh lắm nhưng độ chuyên nghiệp - một biểu hiện của tính hiện đại - thì rõ ràng là cao hơn nhiều. Một Nguyễn Nhật ánh với sức viết như vậy, thời chúng tôi còn quàng khăn đỏ, trên miền Bắc, làm gì có? Thuở ấy hầu hết nhà văn đều coi viết cho thiếu nhi là “nghề tay trái”, ai cũng muốn có “tác phẩm để đời” ở những đề tài, những thể loại to tát kia. “Dế mèn...” vẫn cứ đứng đầu danh mục tác phẩm dài dằng dặc của cụ Tô Hoài; Đoàn Giỏi chỉ còn “Đất rừng phương Nam”. Xa hơn, “Chùa Hương” và “Sơn Tinh - Thủy Tinh” của Nguyễn Nhược Pháp là viết cho thiếu nhi đấy chứ...
Nhìn ra thế giới thì An-đéc-xen (Đan Mạch), Gai-đa (Nga), Xanh ê-xup-pê-ry (Pháp)... toàn những “ông lớn trong thể loại nhỏ” cả. Nhưng cũng không hoàn toàn tại nhà văn: xã hội ta cũng bất công với người viết cho thiếu nhi, cả về lợi lẫn về danh. Những công trình văn học sử thường bỏ qua tên họ. Báo chí chuyên dành cho văn chương phục vụ thiếu nhi hầu như không có, những trang dành cho thiếu nhi trên các báo “người lớn” và những trang dành cho văn chương trên các báo “trẻ con” thì đều èo uột, vụn vặt. Tất cả những điều bất cập ấy cứ kéo lê hết năm này sang năm khác, không chỉ làm cùn mòn ý chí của người viết mà cũng góp phần làm trẻ em xa lánh văn chương đích thực.
-Cuộc thi bình chọn “Cuốn sách yêu thích của em” do Ban Văn học Thiếu nhi (Hội Nhà văn Việt Nam), Ban Văn nghệ (Đài TNVN), ủy ban Dân số, Gia đình & Trẻ em VN, Nhà xuất bản Kim Đồng, Nhà xuất bản Trẻ phối hợp tổ chức phải chăng là một cố gắng để kéo các em trở lại với trang sách, với văn chương?
-Trong cuộc sống xô bồ hiện nay, đôi khi ta chỉ nhìn thấy sách vở, báo chí, các phương tiện giải trí cho trẻ em thừa mứa đến rẻ rúng ở các đô thị lớn mà quên mất hàng triệu, hàng triệu trẻ em còn đói cơm và nhất là đói sách, đói báo ở các vùng nông thôn, có nơi chỉ cách thủ đô vài chục cây số! Một cái truyện, một bài thơ đọc trên đài có khi là “khẩu phần văn chương” cả tháng, cả năm với nhiều em, đem lại những hiệu ứng không ngờ.
Việc Đài TNVN phối hợp với các cơ quan nói trên tổ chức cuộc thi là rất hay và rất kịp thời. Tuy nhiên tôi được biết là việc hưởng ứng của các em chưa được như mong muốn của những người tổ chức? Số lượng bài gửi về dự thi vẫn còn khiêm tốn. Nhiều bài dự thi của các em bị “phạm luật” khi đưa cả những cuốn sách trước năm 1975. Bên cạnh đó việc có những hiểu biết về tiểu sử tác giả cũng là một trở ngại lớn cho các em. Vì hình như chương trình ngữ văn phổ thông cơ sở ít đề cập đến văn học sử?
-Vậy theo ông, Ban tổ chức cần phải có những động tác gì để thúc đẩy cuộc thi thành công như mong đợi?
-Trước hết, cần phải có nhiều cách để quy chế của cuộc thi đến được mỗi góc học tập của các em. Muốn vậy phải được sự hưởng ứng của ngành giáo dục, cụ thể là các trường phổ thông trong cả nước. Ban thường trực cuộc thi cần làm việc với Sở Giáo dục một số tỉnh, trực tiếp với một số trường có phong trào, kết hợp với các Tỉnh Đoàn và các hội văn nghệ. Cuộc thi cần mở ra một phong trào tặng sách, lập tủ sách cho các trường học vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa...
Tóm lại, từ “phát” đến “động” là cả một quá trình và muốn cho cuộc thi đến đích thì bên cạnh những giải pháp vừa nêu không thể bỏ qua vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng. Cuộc thi là bước khởi đầu tiếp sức cho văn học, cho nhà văn “giành lại” bạn đọc trong nhịp sống gấp gáp hiện nay. Đây là việc làm có ý nghĩa không chỉ trước mắt mà còn rất lâu dài, liên quan đến tâm hồn và lối sống của nhiều thế hệ.
-Xin cảm ơn nhà thơ.
9-1-2005 NGUYỄN VĨNH QUYÊN |