Học thuyết giai cấp và đấu tranh giai cấp đã hình thành hơn 200 năm. Nhưng lịch sử của giai cấp và đấu tranh giai cấp dài gấp hàng chục lần lịch sử của học thuyết. Trước khi có chủ nghĩa Mác, nhân loại đã hàng ngàn năm chìm trong các cuộc đấu tranh đẫm máu mang màu sắc giai cấp. Nói như thế để minh chứng một điều, Mác và Ăngghen không phải là người “sáng tạo” ra giai cấp. Giai cấp và đấu tranh giai cấp là sản phẩm của lịch sử, là sản phẩm của sự phát triển xã hội. Và, công lao của những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác chỉ là ở chỗ: Tìm ra cơ sở sự phân chia giai cấp và khám phá quy luật của đấu tranh giai cấp, biến học thuyết đấu tranh giai cấp do giai cấp tư sản trước Mác tạo ra – thành một học thuyết khoa học mà thôi. Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã có công phát hiện ra sự phân chia xã hội thành giai cấp bóc lột và bị bóc lột là kết quả tất yếu của sự phát triển ít ỏi trước đây của sản xuất – chứ hoàn toàn không phải từ “lòng tham lam” hay “tính vốn ác” của con người như những nhà tư tưởng trước đó đã chỉ ra.
Ra đời cùng với lịch sử, giai cấp và đấu tranh giai cấp là một thực thể khách quan không phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ ai. Sự phân chia giai cấp, trải qua hàng ngàn năm đã tạo ra sự biến động xã hội đầy bất công, đẩy hàng triệu người vào cảnh cùng khổ: bị áp bức, đàn áp, nô dịch. Nhưng, với các nhà sáng lập học thuyết, giai cấp và đấu tranh giai cấp còn được ghi nhận như là một bước tiến có ý nghĩa lịch sử đối với sự phát triển nhân loại. Tính khách quan và khoa học của học thuyết là ở đó. Mác và Ăngghen chưa bao giờ coi giai cấp là cái “bướu thừa” là “quái thai” của lịch sử. Ngược lại, theo các ông, sự hình thành giai cấp đã dẫn đến sự phân công lao động trí óc và lao động chân tay, thúc đẩy triết học và khoa học phát triển, hình thành nền kinh tế hàng hóa. Những khuyết tật của sự phân hóa giai cấp cũng được các ông nhìn nhận một cách biện chứng khoa học và nhân văn. Ăngghen cho rằng từ khi sự đối lập giữa các giai cấp xuất hiện thì chính những dục vọng xấu xa của con người – lòng tham lam và sự thèm muốn quyền thế – cũng trở thành đòn bẩy cho sự phát triển. Mác, Ăngghen và Lênin, trong khi phê phán quyết liệt chủ nghĩa tư bản đã khẳng định: giai cấp tư sản hiện đại là sản phẩm của quá trình phát triển xã hội và đóng vai trò hết sức cách mạng trong lịch sử. Giai cấp tư sản đã tạo ra những biến động liên tục trong đời sống xã hội, đặc biệt là kinh tế và khoa học công nghệ. Nó đã lôi cuốn nhiều dân tộc chậm tiến vào trào lưu văn minh. Nó tạo lên những dân tộc thống nhất, những thị trường thống nhất và thúc đẩy sự tiến bộ xã hội. Lênin cũng nhấn mạnh rằng chủ nghĩa tư bản là một bước tiến lịch sử của nhân loại trên con đường đi tới tự do, dân chủ và bình đẳng.
Nhưng giai cấp tư sản cũng để lại những nỗi đau không thể phai trên cơ thể nhân loại. Những cuộc bần cùng hóa đẫm máu để tích lũy tư bản. Những cuộc đàn áp tàn khốc ở chính quốc để khẳng định vị trí lãnh đạo độc tôn. Những cuộc thập tự chinh triền miên giữa các quốc gia đế quốc tranh giành ảnh hưởng và thị trường, có lúc đã đẩy loài người vào nguy cơ tự hủy diệt. Những cuộc chiến tranh xâm lược, bòn rút của cải tài nguyên, nô dịch và nhục mạ con người đổ lên đầu triệu triệu người dân những dân tộc thuộc địa lao khổ. Những ký ức đau buồn, những ám ảnh hàng ngàn năm ấy có lúc ngỡ sẽ qua đi. Những người hoang tưởng nhất trong số những người hoang tưởng nghĩ rằng đấu tranh giai cấp đã kết thúc sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ. Rằng, lịch sử đã sang trang. Nhưng người ta đã lầm. Lịch sử sang trang nhưng không phải trang “thế giới đại đồng” như nhiều người ảo tưởng. Trang sử mới tuy màu mè sặc sỡ hơn – nhưng nội hàm của nó – vẫn là sự tiếp nối cuộc đấu tranh của nhân loại hàng ngàn năm, ngọt ngào nhưng tàn khốc hơn. Chiến tranh lạnh kết thúc nhưng chiến tranh nóng lại tiếp diễn với tần số dày đặc và phạm vi rộng rãi hơn. Bom vẫn nổ và máu người không ngừng đổ ở Iraq, Afghanistan, Palestine. Và liệu có gì khác thời Trung Cổ hay không, khi người ta ngang nhiên xử án một tổng thống hợp hiến, bao vây cấm vận một đất nước tự chủ, “Hành quyết” cả một dân tộc độc lập? Chỉ có điều khác: không phải với chiêu bài trắng trợn “dân tộc thượng đẳng” kiểu Hítle, mà với bộ mặt mỹ miều hơn: Tiêu diệt khủng bố, đàn áp độc tài, trừng phạt vi phạm nhân quyền. Cái lõi giai cấp hòa tan trong thế giới đơn cực, trong những giá trị được gắn mác “nhân loại” – đang trở thành một thứ quyền lực siêu giai cấp, siêu thống trị. Nó có nguy cơ biến không chỉ một dân tộc mà nhiều dân tộc tự nguyện trở thành thân phận “chú cừu Đô Ly”. Nó thủ tiêu bản sắc dân tộc, phá vỡ các giá trị truyền thống, tiêu diệt các nền văn hiến, đồng hóa thế giới theo tiêu chí và giá trị duy nhất: giá trị của những kẻ giàu.
Xây dựng một xã hội không còn sự phân chia giai cấp là lý tưởng của nhân loại tiến bộ. Nhưng đó là con đường còn gập ghềnh xa và đầy chông gai. Trong thời đại ngày nay, dù là con biến hình luôn thay cho mình bộ mặt mới, nhưng giai cấp và đấu tranh giai cấp vẫn còn đó. Ngọn cờ tự do, bình đẳng, bác ái của chủ nghĩa tư bản không đủ để che khuất những bất công khủng khiếp trong xã hội loài người. Sẽ là kẻ hèn nhát nếu chúng ta không đủ dũng cảm nhìn vào sự thật: Trong khi không ít kẻ hoang phí xài một món ăn hàng ngàn đô la thì người dân châu Phi chỉ được tiêu dùng mỗi ngày không quá 1 đô la – cái sự thật kẻ ăn không hết người lần không ra – của hàng ngàn năm cũ. Và, càng hèn nhát hơn nếu chúng ta không dám chỉ thẳng tên sự phân hóa đến mức phi nhân đã và đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ trên khắp hành tinh. Sự phân hóa ấy lẩn khuất tinh vi hơn trong quan hệ “cá lớn nuốt cá bé” giữa các quốc gia, trong trò chơi trịch thượng của kẻ mạnh núp dưới ngọn cờ quốc tế hóa và toàn cầu hóa, trong “nghệ thuật” trao tay này, lấy lại tay kia. Nhưng nó ẩn mình khéo léo biết bao. Không phải những con chim ẩn mình chờ chết; mà ẩn mình một cách hào nhoáng trong lý tưởng Dân chủ và nhân quyền – một khẩu hiệu ma mị đầy sức mời gọi và quyến rũ. Nó như một khối vuông rubic, biến ảo khôn lường sẽ chỉ lộ mình cùng với sự tỉnh táo và cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ của nhân loại tiến bộ. Và, tấm kính chiếu yêu không có gì khác hơn là lời cảnh báo mà, trước giờ bước lên giá treo cổ, J.phu-xích đã gởi lại cho các thế hệ chúng ta: Hỡi loài người, hãy cảnh giác.
DƯƠNG TRỌNG DẬT