Bài dự thi “Hoa giữa đời thường”

Hoa trong căn nhà nhỏ

Hoa trong căn nhà nhỏ

Sau bốn lần gặng hỏi “Nếu được lựa chọn làm việc tại TPHCM với mức lương tương tự hoặc cao hơn một chút so với công việc hiện tại, vợ chồng bạn sẽ chọn phương án nào?”. Cả bốn lần, tôi đều nhận được đúng một câu trả lời từ vợ chồng anh Kiều Duy Tú, chị Hà Thị Thanh “Chúng em chọn ở lại …”. Nơi họ đang công tác - Trường Giáo dục Đào tạo và Giải quyết việc làm số 2 (Trường 2) – là một địa bàn “khỉ ho cò gáy” thuộc huyện miền núi Lâm Hà tỉnh Lâm Đồng…

  • Bỏ phố lên rừng

Hoa trong căn nhà nhỏ ảnh 1

Gia đình anh Kiều Duy Tú, chị Hà Thị Thanh trước ngôi nhà nhỏ nhưng tràn đầy hạnh phúc.

Tốt nghiệp Đại học Ngoại ngữ Hà Nội năm 1998, có công việc ổn định trong một công ty liên doanh tại Hà Nội với mức lương khởi điểm đủ sống đã từng là niềm mơ ước của Hà Thị Thanh, cũng như nhiều sinh viên khác khi còn ngồi trên ghế giảng đường đại học. Nhưng cuộc sống bon chen xô bồ giữa chốn thị thành đã ngày càng khiến cô cảm thấy lạc lõng. Cô muốn tìm đến môi trường làm việc có nhiều thử thách với tuổi trẻ hơn.

Trong lần nghỉ phép năm 2001, Thanh vào thăm gia đình người thân tại Lâm Đồng và tình cờ gặp anh Nguyễn Văn Bình, Phó Giám đốc Trường 2. Khi nghe anh Bình giới thiệu về Trường 2 - nơi cai nghiện và dạy nghề cho những học viên nghiện ma túy - đang rất cần giáo viên, Thanh đã nhận lời không một chút do dự. “Quả thật sau khi nhận lời em cũng hơi lo, các học viên trong trường là người nghiện, thậm chí có người bị nhiễm HIV… lỡ có chuyện gì thì sao…” - Thanh nhớ lại.

Mặc dù đã hình dung được khó khăn của môi trường làm việc mới, nhưng những ngày đầu lên trường, không ít lần Thanh có ý định rút lui. Do các học viên mới lên trường cần cắt cơn một thời gian rồi mới học văn hóa, nên công việc đầu tiên của Thanh tại trường không phải là giáo viên, mà làm nhân viên hậu cần, phụ giúp nhà bếp nấu ăn cho trên gần 1.000 học viên. Suốt ngày ở trong bếp, hết đánh vật với những loại xoong chảo khổng lồ, lại tiếp xúc với những người nghiện, lương khởi điểm chỉ 500.000 đồng/tháng, tối về ở tập thể.

Trời lạnh, chỉ tiếp nhận thông tin của thế giới bên ngoài qua chiếc radio bé xíu của mấy anh ở phòng bên cạnh, muốn đến thôn bản gần nhất cũng phải mất vài giờ đi bộ, ngoài trời thì heo hút, chỉ có tiếng gió rít qua vách ngôi nhà gỗ làm tăng thêm nỗi nhớ nhà… Tất cả như thôi thúc cô quay về lại Hà Nội. “Lần đầu tiên gia đình vào đây thăm em, cả mẹ và em gái chỉ biết ôm em khóc và khuyên em nên về lại Hà Nội, vì không ai ngờ em lại làm việc ở vùng rừng núi hoang vu trong môi trường nguy hiểm thế này…” Thanh nhớ lại.

Sau 7 tháng làm hậu cần, Thanh được chuyển lên cơ sở dạy văn hóa và dạy nghề của trường để đứng lớp. “Trước hôm lên lớp, cả đêm em không ngủ được vì lo, đứng trước mấy chục người, đa số đều lớn tuổi hơn mình với đủ thành phần xã hội, họ có chịu nghe, chịu học mình không?... Hôm đó em phải nhờ mấy anh bảo vệ đứng ngoài lớp để mình yên tâm hơn…” - Thanh kể. Cũng từ đó, không hiểu điều gì đã níu chân cô ở lại trường mà bản thân Thanh cũng không xác định được. “Có lẽ là hình ảnh những thanh niên, thậm chí những người lớn hơn tôi gần 20 tuổi nắn nót viết từng chữ a, chữ o và đều trìu mến gọi hai tiếng “cô Thanh” khi muốn hỏi điều gì. Có rất nhiều học viên ở trường mù chữ hoặc chỉ học hết lớp 1, lớp 2 và tôi nhận ra rằng họ cần mình và mình có ích cho họ…”. Thanh xúc động tâm sự.

  • Cùng xây tổ ấm

Cuối năm 2002, mối tình giữa Thanh và anh cán bộ phòng kế hoạch của trường là Kiều Duy Tú đã đến độ chín muồi và họ quyết định tiến đến hôn nhân. Tú quê ở Hà Tây, cũng xung phong lên trường khi vừa học xong Cao đẳng Kỹ thuật Hà Tây. Có lẽ cùng cảnh xa quê nên họ hiểu, thông cảm chia sẻ với nhau rất nhiều. Tình yêu nảy nở từ đó và mặc dù đời sống trên trường lúc đó rất khó khăn nhưng họ vẫn quyết định tiến đến hôn nhân với mục đích duy nhất: “để hai đứa cùng yên tâm công tác…”.

Sự khắc nghiệt của vùng đất như muốn tiếp tục thử thách quyết tâm của đôi vợ chồng trẻ. Kiều Duy Tú còn nhớ như in cái ngày giữa mùa mưa năm 2003, anh và vợ bế đứa con đầu lòng mới sinh được 10 ngày tuổi, lội bộ mấy cây số trong mưa để đón xe ra bệnh viện huyện. Anh Tú kể: “Khi bé sinh được 10 ngày thì nhiều người nói bé bị nhiễm trùng rốn, phải đi khám, hôm đó trường không còn xe ô tô, trời lại mưa, đường sá lầy lội nên xe máy đi không bảo đảm, tôi và Thanh bế cháu lội bộ trong mưa qua đoạn đường lầy để đón xe. Khi ra đến bệnh viện, cả một mảng da đầu của bé bị tróc do bị cọ xát nhiều vào tay người lớn… Cứ mỗi lần cháu bệnh phải đưa ra bệnh viện huyện cách trường vài chục cây số là một lần chúng tôi thót tim…”.

Đến thăm ngôi nhà rộng 24m2 của đôi vợ chồng trẻ tại khu tập thể của trường - nội thất chưa có gì, chỉ có một chiếc chiếu trải ra để đón khách, một chiếc tivi và một góc bếp “gọn gàng” - chúng tôi càng tin rằng họ ở lại đây sống và làm việc không phải chỉ vì miếng cơm manh áo. Sức như họ, trình độ như họ, hoàn toàn có thể tìm việc làm và tạo lập cuộc sống ổn định tại những đô thị lớn. Họ chọn ở lại vùng đất khai hoang và môi trường làm việc hoàn toàn không dễ dàng này, trước hết là vì nhiệt huyết của tuổi trẻ mong muốn được cống hiến, được thực hiện theo lời hiệu triệu của Đảng “đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”. Sự nỗ lực của họ đã được ghi nhận: cả hai vợ chồng đều đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bế đứa con đầu lòng đứng trong căn nhà nhỏ, trước khi chia tay chúng tôi, chị Hà Thị Thanh vẫn khẳng định “Mình còn trẻ, không nhất thiết cứ phải bám chốn đô thị mới lập nghiệp được. Nếu được lựa chọn làm lại, vợ chồng tôi cũng vẫn sẽ chọn vào lực lượng Thanh niên xung phong và làm việc ở Trường 2. Vì ở đây chúng tôi đã được rèn luyện, thấy mình còn có ích cho nhiều người và từ đó, chúng tôi có được… hạnh phúc”. 

BÍCH NGỌC

Tin cùng chuyên mục