Mờ sáng, khi núi đá vẫn còn mờ trong sương mù che kín, những người đàn ông trong thôn (vùng Thượng Can huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh) đã í ới gọi nhau lên bãi đá để bắt đầu một ngày làm việc mới – đào đập đá…
|
|
Những người thợ đá phải chẻ từng khối đá bằng phương tiện thủ công. |
Anh Tùng đưa cho tôi một chiếc xà beng dài hơn 2,5m, hai đầu buộc lại sẵn hai túi đựng chừng hơn 20 chiếc chạm bảo tôi gánh, còn anh vác 4 cái búa tạ và cõng thêm can nước lạnh 20 lít sau lưng. Chen vào đoàn người lỉnh kỉnh những búa, xẻng, xà beng… tôi cùng các anh leo lên bãi theo những lối mòn dẫn sâu vào khe núi, bắt đầu một ngày khai thác đá.
Phải hơn một tiếng đồng hồ theo các anh, tôi mới lên đến bãi đá, chưa kịp hạ cái xà beng nặng trịch trên vai đã hút hồn bởi tiếng “oàng” của mìn nổ ngay mỏ đá bên kia vách núi. Anh Tùng bỏ đồ nghề xuống và phân công việc cho mọi người: “Chú Thủy, anh Khoa leo lại góc kia đục lỗ mìn; chú Hải tính làm sao giờ đến trưa chẻ cho được tảng đá đó ra làm đá hộc. Chú tính coi, sao để bổ (đập) tảng đá đó cho được 2 xe công nông mới đủ tiền mua kíp mìn hôm qua đó nghe”- anh Tùng nói như ra lệnh.
Riết xong điếu thuốc lào, ai nấy lặng lẽ làm công việc như đã được giao. “Thế nào “Giám đốc” Tùng (cách gọi thân mật mà đồng nghiệp gán cho anh cái chức ấy vì ở mỏ đá này anh Tùng là người đứng ra ký hợp đồng rồi nhận mọi người vào làm) - hôm qua châm ngòi nổ trúng mẻ lớn lắm à?” – một đồng nghiệp từ mỏ đá bên kia chạy sang thăm dò, rồi than phiền: “Sáng sớm “khai sơn” phát mà xui xẻo quá trời, tối ni chắc vợ con cháo cám cũng không có mà ăn”. Tôi chưa hiểu gì thì nghe anh Tùng buông lời hỏi lại đồng nghiệp: “Thế chú đục lỗ mìn sâu mấy mét, mất bao nhiêu thuốc nổ?” - người kia phân trần: “Hai anh em tui ngày qua định đánh quả cho lớn, đào sâu 3m, hết 3kg thuốc bom, hai kíp nổ, ai ngờ sáng ni bị ục”.
Đó là anh Nguyễn Văn Hòa (35 tuổi) chủ thầu một mỏ đá đang khai thác bên cạnh. Nhóm anh có 5 người nhưng toàn là người trong gia đình. Anh sinh ra ở gần bãi đá và lớn lên cũng làm nghề khai thác đá tại đây. Khi Nhà nước cấm sử dụng thuốc nổ anh vào Đắc Lắc, đảo Phú Quốc làm nhiều nghề nhưng giờ cũng trở lại làm nghề đào đá kiếm sống qua ngày. “Trai tráng trong làng coi cái mỏ đá ni như nơi lập nghiệp, dù có đi mô rồi cũng về “cày” lại mỏ đá ni thôi”- anh tự hào về bãi đá của quê mình. Nói rồi anh quay sang bãi đá của mình để tiếp tục đập đá.
8 giờ sáng mặt trời ló lên đỉnh núi xóa tan lớp sương mù phủ kín ban mai, cái nắng rọi trên đầu những người thợ đá. Bụi đá mù mịt, mọi người đang gò lưng đánh đu với những tảng đá hộc. Ai nấy mồ hôi thấm ướt chiếc áo cánh bạc phếch. Tiếng búa mổ chát chúa vọng oang cả góc núi, đốm lửa tóe ra từ kẻ đá, lưng chèn. Những giọt mồ hôi lăn dài trên cán búa, rồi thấm vào đá. Trời càng lúc càng nóng nhưng ai nấy đều làm việc cật lực.
Cởi chiếc áo dài ướt đẫm mồ hôi, lấy sợi dây thừng thắt ngang lưng, đầu để trần, trên tay là chiếc xà beng dài, anh Tùng và hai, ba người khác đu người lên vách núi cao lên tới chục thước. Lần theo sợi dây thừng dùng làm dây bảo hiểm, mất gần nửa giờ chúng tôi mới leo lên được lưng chừng vách đá, nơi những người tay trần, chân đất các anh đang gồng mình nạy từng tảng đá trên vách núi cheo leo. Tìm được chỗ đứng vững chắc, tôi hăng hái cầm chiếc xà beng nhỏ nhất xọc vào lỗ hổng khe đá theo sự chỉ dẫn của anh Tùng. Cái xà beng dài mới chỉ đưa lên bỏ xuống một lúc mà hai tay đã mỏi khịu xuống. Hì hục mãi, mồ hôi tuôn nhễ nhãi mà tôi không sao cạy được phiến đá rơi xuống.
Anh Hằng (20 tuổi), một người trẻ nhất mà đã có kinh nghiệm 3 năm chẻ đá nhìn tôi rồi nói: “Làm ra cục đá không dễ ăn thế mô, đổ mồ hôi, chai bàn tay mà cũng chưa ra đó chú! Nhiều khi phải đổi cả tính mạng nữa đó”- Một ngày mọi người làm cật lực lắm cũng chỉ được dăm chục ngàn đồng bạc, coi như là lấy công làm lãi. “Ở cái đất chó ăn đá, gà ăn sỏi này ngày mà kiếm được 50 ngàn đồng là may mắn lắm rồi”- anh Tùng nói. Nhóm của anh Tùng có đến 8 người, mỗi ngày một người khai thác được chừng 5 khối đá. Một khối đá như thế bán ra được 10 ngàn đồng, trừ các khoản chi phí trong ngày mỗi người kiếm được 40 đến 50 ngàn đồng/ngày. Các mỏ đá ở vùng Thượng Can này chủ yếu được khai thác dùng vào việc xây dựng nhà ở và một số công trình dân sinh ở nhiều nơi khác trong huyện.
|
|
Đánh đu với đá… ảnh: VĂN TUÂN |
Mười lăm năm trước, khi những bãi đá còn nằm sát nhà dân, bãi đá này là nơi duy nhất cung cấp vật liệu đá, cát để xây dựng nhà cửa. Chừng ấy năm cũng đã có biết bao thế hệ gắn đời mình vào cái mỏ đá này. Thanh niên đi làm thuê đến Đắc Lắc, Vũng Tàu… khi thất nghiệp cũng về bám lấy mỏ đá, mấy em học xong 12 thi rớt đại học cũng lên đây làm tạm mấy tháng lấy tiền đi ôn thi, chính mỏ đá này là nơi tạo ra công ăn việc làm cho người dân nơi đây.
Ông Thân Hảo, một thợ đá đã “giải nghệ” ở xã Sơn Lộc, trầm ngâm: “Đàn ông vùng Thượng Can này sống nhờ vào vách đá, không có mỏ đá thì chẳng biết làm gì mà sống...”. Gần 20 năm mưu sinh bằng nghề đập đá, ông đã hiểu được sự khó nhọc của nhiều thế hệ từng khai thác đá ở đây. Ông kể: “Cả đời tôi kiếm sống trên bãi đá, nay đâu còn sức mà lên bãi. Cái nghề này vắt sức kinh lắm!”.
Anh Thân Văn Sơn (31 tuổi), người làm đá từ lúc 16 tuổi đến nay tâm sự: “Nghề đập đá ở đây đã có từ lâu đời. Từ thời xa xưa người dân đã biết dùng đá núi làm gạch, làm cột nhà và làm cả phản để nằm. Thiên nhiên ở đây khắc nghiệt lắm, người dân chỉ biết bám vào đá để sống”.
Còn anh Thắng tâm sự “Nghề ni cực nhọc nhất trong các loại nghề, kiếm được ba cọc, ba đồng nhưng chết khi nào cũng không hay. Tai nạn gãy chân, gãy tay do đá là chuyện thường xảy ra trên bãi đá - Đã làm nghề này phải chấp nhận thôi, không lên bãi đá lấy gì mà sống, nuôi con cái học hành...” - nói rồi anh Thắng lại cúi xuống làm tiếp, mồ hôi chảy dài trên đôi gò má đen sạm, ngấm vào cầu vai áo đã sờn rách vì những phiến đá đè nặng mỗi ngày.
Giơ bàn tay chai sạn nổi từng khối u ra trước mặt, anh Tùng đếm từng đốt tay thống kê: “Vùng Thượng Can hiện có gần 300 người làm nghề chẻ đá. Ngoài mỏ đá Sơn Lộc, còn một số mỏ khác như Cào Cào, Lương Tương (xã Quang Lộc), mỏ đá Sơn Thủy (xã Mỹ Lộc)...
Vừa hì hục chẻ đá, anh Sơn vừa kể về những tai nạn gây tử vong và thương tích của người thợ đá nghe mà rợn cả tóc gáy. Hàng năm biết bao nhiêu người bị chết hay bị thương vì đá lở, đá lăn đè lên người là chuyện không có gì mới. Đầu năm 2006, anh Trần Văn S., sau khi châm điện kíp không nổ, anh xuống kiểm tra thì bất ngờ mìn phát nổ hất tung người lên trời chừng 10m rồi dắt vào vách đá. “Thằng S. 29 tuổi, cưới vợ 2 năm mới đẻ được thằng con trai, ai ngờ bị chết thảm thương đến rứa!” – anh Hải hạ chiếc búa tạ xuống tảng đá rồi chép miệng tiếc nuối.
Một loạt cái chết kinh hoàng khác, như với trường hợp anh Trần Văn Thắng, Hoàng Quang, Nguyễn Hậu, Lê Việt… “Được chết ngay còn đỡ, chứ thương tật thì khổ cả nhà, nghề “ăn đá” ni hằng năm có biết bao nhiêu vụ tai nạn xảy ra”- anh Quy kể ra hàng loạt vụ tai nạn thương tích trong nghề. Đáng thương là trường hợp của anh Thân Văn H., từ một chàng trai khỏe mạnh đã phải chịu cảnh tàn phế suốt đời. Trong khi khuôn đá, một tảng đá từ trên vách sập xuống đè vào hai chân, thoát chết nhưng phải tháo hai khớp chân. Nhiều người khác bám trụ vào nghề khai thác đá cũng đã bị đá lở đè trúng làm dập mật, nát lá lách, rạn gan, rạn phổi, nằm liệt suốt đời. Đó là chưa kể đến hàng loạt bệnh tật khác do bụi đá, tiếng ồn, như đau mắt, lao phổi, điếc, thậm chí mắc bệnh thần kinh... “Cái nghề ni vừa cực nhọc, chết lúc nào không hay, chỉ vì miếng cơm manh áo mà phải bám trụ. Ở xứ này không đào đá thì biết làm gì”- anh Hải phân trần.
Hầu hết thợ khoan đá trên bãi đá vùng Thượng Can này không học qua trường lớp nào về kỹ thuật khai thác mỏ. Anh Tùng cho biết: “Kinh nghiệm thôi, tai nạn của người này chính là bài học cho người khác...”.
11 giờ 30 chúng tôi được nghỉ tay. Sau bữa cơm trưa đạm bạc ngay tại cái lều nhỏ cắm gần chỗ khai thác đá, những người thợ đá không có thời gian nghỉ trưa, ai nấy quay sang mài dũa những vật dụng “cần câu cơm” của mình. Ánh nắng chiếu lên vách đá sừng sững trước mặt, đôi mắt tôi nhòa dần vì mồ hôi, còn đối với các anh thì trời nắng mới điều mong đợi để làm ra “bát cơm manh áo” cho cả gia đình. Các anh tâm sự: “Thợ đá chúng tôi sợ nhất là trời mưa, trời mưa là nghỉ việc, là đói. Cũng có một số anh em vì miếng cơm manh áo mà trời mưa cũng đi làm, nhưng làm trời mưa sợ nhất là tai nạn, không chết thì tàn tật suốt đời”.
|
Nghề khai thác đá ở vùng Thượng Can chủ yếu làm thủ công là chính. Không có máy cắt, không có khoan, mọi thứ đều làm bằng tay. Mỗi ngày làm việc cật lực lắm cũng chỉ kiếm được 40 đến 50 ngàn đồng/người nhưng đó là nghề để họ kiếm sống duy nhất. |
VĂN TUÂN |