Năm 12 tuổi, bà Trịnh Thị Răm ở thôn Quyển Sơn (xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam) đã trở thành viên đội hát Dặm của làng. Trải qua bao thăng trầm cuộc đời, đến nay, đã 87 tuổi nhưng bà vẫn thuộc “làu” 38 làn điệu hát Dặm. Bà là người duy nhất được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian về hát Dặm…
Thăng trầm cuộc đời
|
|
Dù đã 87 tuổi nhưng bà Trịnh Thị Răm hàng ngày vẫn ngân nga những làn điệu hát Dặm |
Ngay từ nhỏ, cô bé Trịnh Thị Răm đã yêu thích làn điệu hát Dặm quê mình. Cứ mỗi năm đi xem hội trên đền, cô bé Răm lại thuộc nhiều làn điệu rồi về nhà tự tập hát một mình.
Đến năm 12 tuổi, cô bé Răm được chọn lên hát trên Đền thờ thánh. Trải qua thời gian, 38 làn điệu của hát Dặm được bà trùm lần lượt truyền hết lại cho bà Răm. Năm 18 tuổi, bà Răm mang lễ lên đền xin thôi hát Dặm, theo chồng lên xe hoa.
Theo luật, từ đó bà không được đứng hát cùng chị em nữa. Bỏ lại đằng sau những câu hát thân thương để làm tròn bổn phận một người vợ, người mẹ nhưng bà Răm vẫn khắc sâu trong tâm trí mình 38 làn điệu hát Dặm... Cuộc kháng chiến chống Pháp nổ ra, đền thờ Thánh Cả không còn mở hội như trước, dần già những câu hát Dặm cũng bị mai một. Chồng vào chiến trường được hơn một năm, năm 1946, bà Răm cũng tham gia đội du kích địa phương. Đến năm 1948, chồng bà hy sinh, bỏ lại người vợ và hai đứa con thơ dại. Đến năm 1963, người con trai duy nhất của bà cũng hy sinh trong khi chiến đấu. Bất hạnh vẫn không dừng lại, năm 1982, người con gái cũng ra đi vĩnh viễn.
Bà Răm trở về “vạch xuất phát”, mọi hy vọng của cuộc đời giờ như đã chấm hết. Trải qua hàng chục năm chiến tranh, những người bạn hát Dặm ngày xưa người còn, người mất, những câu hát Dặm cũng không còn ai nhớ đến nữa.
Năm 1975, sau khi giải phóng đất nước, cuộc sống yên ấm, người dân trong làng liền nghĩ về những làn điệu hát Dặm năm xưa. Đến năm 1991, một người dân khi đi lấy đá đã phát hiện ra Ngũ Động, nơi xưa kia cất giấu quân lương của Lý Thường Kiệt. Người dân trong làng liền lấy nơi đây làm nơi mở hội và phục hồi làn điệu hát Dặm. Bà Răm không quản khó khăn, nhọc nhằn, một mình bà đi vận động chị em trong xóm tập hợp lại thành đội để dạy nhau hát Dặm phục vụ cho ngày lễ hội. Rồi ít năm sau, khi đội hát Dặm đã đủ lớn mạnh, bà Răm đi đến tận các hộ gia đình vận động các cháu học sinh tham gia đội hát.
Cứ kế tiếp lớp này đến lớp khác, hiện đội hát Dặm vẫn duy trì ở con số 18 em, bà Răm luôn là người “đứng mũi chịu sào”. Với những nỗi đau liên tiếp trong cuộc đời, bà Răm bồi hồi nghĩ lại: “Âu cũng là cái số thôi anh ạ! Ông trời cho tôi cái gì thì cũng đã lấy lại hết rồi, trừ mỗi làn điệu hát Dặm thôi. Để đến được với hát Dặm như ngày hôm nay tôi đã được thử lửa và phải biết quý trọng để truyền dạy câu hát cho thế hệ mai sau”.
Mang làn điệu hát Dặm đi khắp thế gian
Làn điệu hát Dặm cứ thế lan truyền đi khắp các tỉnh, thành cả nước. Nhiều nhà nghiên cứu, nghệ sĩ dân gian từ Hà Nội, Hà Tây, Hải Dương, Nam Định… lần lượt tìm đến nhà bà Răm để nghiên cứu và học hát những làn điệu hát Dặm. Năm 1993, một Việt kiều Pháp về nước và tìm đến những môn nghệ thuật cổ truyền dân gian. Theo tiếng đồn, chị về Quyển Sơn tìm gặp cụ Răm. Một năm sau, người phụ nữ Việt kiều ấy quay lại và mời bà Răm đi lưu diễn 14 nước châu Âu. Trong đoàn đi lưu diễn lần đó, ngoài bà Răm, còn có 13 cụ bà nông dân hát chèo khác.
Những tâm tư, tình cảm, trăn trở và phẩm giá của con người Việt Nam đã được cha ông đúc kết lại qua những câu hát, hò vè… và hôm nay, được những nghệ nhân hầu hết ở độ tuổi “thất thập cổ lai hy” đem đi ngao du khắp thế giới.Cứ mỗi đợt kéo dài 3 tháng trời, mỗi năm 2 lần, trong vòng 3 năm, những nghệ sĩ “chân lấm tay bùn” đã “tung hoành” trên khắp các sàn diễn từ Pháp, Anh, Bỉ, Hà Lan, Ý, Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch... đến Mỹ, Úc, Nhật…
Cụ Răm tâm sự: “Từ nhỏ đến già, lúc nào tôi cũng chỉ vò võ quanh vùng, không bao giờ dám nghĩ mình sẽ được đi các tỉnh khác, huống hồ đây lại được đi ra tận nước ngoài. Mỗi lần lên sàn diễn, thấy bà con Việt kiều của mình đăm đắm từng câu hát, nhiều người nước ngoài còn ghi âm, ghi hình để về dịch, tôi thấy cảm động vô cùng. Hóa ra, đất nước mình có những tài sản vô giá về nghệ thuật”.
Hát Dặm đang đứng trước những khó khăn, nhất là trong việc tìm một lớp hát kế cận theo đúng nguyên tắc. Phần lớn những em đủ tiêu chuẩn thì đang theo học tại các trường, còn những em trên 18 tuổi thì lại đi học, làm ăn xa nhà hoặc sớm xuất giá theo chồng. Mặt khác, những điệu hát Dặm đều là ngôn ngữ cổ nên thế hệ trẻ rất khó học thuộc…
Vì những công lao gìn giữ, phục dựng làn điệu hát Dặm, cụ Trịnh Thị Răm đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân dân gian” và nhiều bằng khen, giấy khen của các cấp, ban ngành từ T.Ư đến địa phương. Chia tay “trùm” hát Dặm Quyển Sơn, trong chúng tôi vẫn vang vọng câu “hò ơi… í a” mượt mà, thanh thoát của một cụ bà đã xấp xỉ cái tuổi 90.
|
Theo tương truyền, trong một lần đánh thắng giặc Xiêm trở về, qua dòng sông Đáy thơ mộng, tướng Lý Thường Kiệt cho quân neo đậu bên cạnh núi Cấm và mở tiệc khao quân. Trong thời gian lưu nghỉ tại đây, Lý Thường Kiệt đã dạy nhân dân trong vùng Quyển Sơn cách trồng lúa nước, trồng dâu nuôi tằm và làn điệu hát Dặm. |
|
Hát Dặm là những làn điệu hát thờ thánh, là một trong những nghi lễ thiêng liêng của tháng hội Đền Thánh Cả, chỉ có những trinh nữ hoặc gái góa phụ mới được hát hầu thánh.
Hội được mở từ mùng 10 tháng giêng cho đến mùng 10 tháng 2 hàng năm. Các bài hát Dặm chủ yếu mang nội dung tín ngưỡng, ca ngợi quê hương, mùa vụ của người anh hùng nơi trận mạc.
Hát Dặm có một nửa là hát, còn lại là múa. Hát Dặm không dùng nhạc cụ đệm theo mà chỉ dùng đôi sênh tre, do cụ trùm gõ nhịp lúc khoan lúc nhặt và các cô gái đồng trinh sẽ đi xung quanh hát theo nhịp gõ. |
Kỳ Ninh (SGGP 12 G) |