Ký sự pháp đình

Phải chi có ai đó đợi em...

Phiên tòa lưu động xét xử vụ án giết người dã man hôm ấy, cả 4 bị cáo ra tòa với chiếc áo trắng - màu trắng của sự tinh khiết…

Trước tòa, các bị cáo khai lúc phạm tội chỉ mới quen nhau được 2 ngày. Mấy đứa chat với nhau trên mạng. Bữa đầu gặp là để… nhậu làm quen. Bữa sau gặp nhau là do bé Ty cảm thấy mến bé N. nên đề nghị đi chơi bữa nữa. Địa điểm gặp gỡ là quán nhậu gần chợ Bà Chiểu. 4 đứa kêu rượu đế, ốc, hột vịt lộn... Cũng trong bữa nhậu này, bé N. kể với các bạn là sắp đến sinh nhật một đứa bạn của mình mà không có tiền tổ chức... Vậy là cả 4 rủ nhau đi trấn lột để có tiền!

- Ai là người đầu tiên đề ra ý tưởng đi cướp, ai phân công nhiệm vụ?

Bé H: Dạ, hổng ai phân công hết. Nghe bé N. kể vậy, mọi người đều đồng ý đi trấn lột rồi tự nhận “trách nhiệm” của mình. Bé N. nói muốn cướp phải có dao nên bị cáo về phòng trọ lấy dao. Vì đó là dao của bị cáo nên bị cáo nhận nhiệm vụ khống chế. Bé Ty và Mén Lớn sẽ lấy tài sản. Còn bé N. sẽ đứng chặn đường. Nhận trách nhiệm xong, 4 đứa chẳng biết đi cướp cái gì, ở đâu nên kéo ra đường đứng chờ. Chờ hoài cũng chẳng thấy ai nên cả bọn quyết định kêu một chiếc taxi để trấn lột tài xế.

- Tài xế là đàn ông, trong khi 4 bị cáo là con gái, làm sao khống chế?

- Bé N.: Dạ, bị cáo nghĩ kề dao vô cổ rồi kêu đưa hết tài sản đây thì ảnh sẽ sợ.

- Tại sao bị cáo lại ra đầu thú?

Mén Lớn: Dạ, khi nghe người ta nói anh tài xế đã chết, đêm nào bị cáo cũng sợ, ngủ không được nên đi đầu thú

Mén Lớn là đứa lớn tuổi nhất trong đám, cũng là đứa duy nhất đi đầu thú sau cái đêm cả bọn đâm chết tài xế taxi rồi bỏ chạy mà chưa kịp định thần để lấy bất cứ tài sản nào. Còn bé N., thành viên trẻ nhất của nhóm sát thủ, vẫn điềm nhiên lên mạng chat, hồn nhiên khoe với bạn về “chiến tích” của mình. Người bạn đó đi báo công an. N., H. và Ty bị bắt khi N. vừa tròn 17 tuổi.

Không gia đình

Tòa hỏi bé H.:

- Bị cáo làm gì để sống?

- Dạ hổng làm gì hết!

- Vậy tiền đâu mà xài?

- Dạ, khi cần thì về nhà xin, hông thôi thì mượn bạn hay cầm CMND, hộ khẩu.

Tòa hỏi bé N.:

- Bị cáo ở với ai?

- Dạ trước giờ chỉ sống nhờ bạn.

- Vậy tiền đâu mà đi chat, đi nhậu?

- Dạ, mỗi lần chat chỉ tốn vài ngàn, có thì đi, không có thì thôi. Còn nhậu thì bạn trả.

- Sao bị cáo không kiếm việc gì làm?

- Dạ, tại bị cáo không có giấy tờ nên không xin việc được.

Trong phần luận tội của đại diện VKSND có đoạn: “Các bị cáo đều ở trong độ tuổi từ 17-20 nhưng lười lao động, chỉ thích chơi bời lêu lổng…”. Cụm từ “lười lao động” dành cho các em không hẳn là sai. Nhưng giữa thành phố đất chật người đông này, liệu có ai tạo việc làm cho một bé gái không gia đình, không trình độ, không tiền bạc, không một mảnh giấy tờ lận lưng? Năm 15 tuổi, bé N. phạm tội cướp giật tài sản, bị TAND quận 10 xử 1 năm rưỡi tù giam. Em có một người bà con nhưng sau khi ra tù không muốn về sống chung vì mặc cảm. Gia đình người bà con ấy có vẻ cũng “đồng tình” với ý muốn của đứa cháu côi cút. Không có sự níu giữ nào, N. bước vào cuộc đời không gia đình theo đúng nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, trước khi phạm tội giết người.

Trong bản cáo trạng của VKSND TPHCM và bản bào chữa của luật sư, phần lý lịch bị can thật sự là những dấu lặng buồn. Bé H.: chỗ ở: nhà trọ không số. Cha chạy xe ôm. Mẹ hiện không biết ở đâu. Bé N.: Chỗ ở: sống lang thang. Mẹ chết. Cha tù chung thân. Mén Lớn: cha mẹ bỏ nhau khi được 1 tuổi. Cha mẹ cùng đi tù vì dính tới ma túy. Sau đó mẹ chết vì nhiễm HIV, cha chết vì bệnh lao phổi… Các em lớn lên như cây cỏ, lấy đường phố làm nhà; sai không ai mắng, tốt không ai khen. Không có ai thật sự đứng bên cạnh các em trong suốt gần 20 năm tồn tại.

Giá đâu đó có người đợi em…

Thông thường, tại các phiên xét xử, tranh thủ lúc tòa nghị án hay lúc tòa xét hỏi đồng phạm, các bị cáo luôn có thói quen ngoái đầu tìm ánh mắt người thân ở phía sau và sau khi tòa tuyên án, trên quãng đường áp tải từ điểm xét xử ra xe tù, bị cáo thường nhắn vội mấy câu với gia đình.

Phiên tòa ngày hôm ấy, tôi để ý thấy cả 4 bị cáo không ngoái lại phía sau lần nào. Bởi hơn ai hết các em biết không có ai, không có ánh mắt đau đáu nào dõi theo mình từ phía ấy. Tòa tuyên án bé N. 18 năm tù giam, bé H. 23 năm tù giam, Mén Lớn 5 năm tù giam và bé Ty 3 năm tù giam…

Phiên tòa kết thúc, lúc bị áp giải ra xe tù, các bị cáo nói lớn: “Anh T. ơi, cám ơn anh nha!” rồi cười thật tươi với anh T. - vị luật sư được tòa chỉ định bào chữa cho bé N. vì em bị truy tố tội giết người khi chưa thành niên. Trong mắt các em, người đàn ông xa lạ ấy là người thân duy nhất, bởi đã đứng ra cảm thông, bênh vực chúng...

Trên đường về, tôi nhớ đến tập truyện “Giá đâu đó có người đợi tôi”, tập truyện viết bằng tiếng Pháp của nữ tác giả Anna Gavalda đã lọt vào danh sách best seller năm 2008. Nhân vật trong truyện là một anh lính trẻ mồ côi có tuổi thơ buồn và cô độc. Anh có thói quen mỗi khi bước xuống tàu điện ngầm để bắt đầu một cuộc hành trình phiêu bạt, anh luôn ngoái lại nhìn để nuôi dưỡng một niềm hy vọng mong manh: nhỡ đâu có ai đó đang dõi theo, đang ngóng chờ mình! Phải, nếu đâu đó trên thế gian này có người chờ đợi, yêu thương, nâng đỡ mình, tôi tin con người sẽ sống tốt hơn, biết đi tới, biết dừng lại và biết trở về.

Tôi cũng tin những đứa trẻ dù đã phạm vào tội ác tày trời, dù không được dạy dỗ tử tế nhưng còn biết dạ thưa với người lớn, biết nói tiếng cám ơn với người đã giúp mình thì chắc chắn các em sẽ tìm ra lối quay về. Thế nhưng, ở cuối con đường xa tít ấy, có người nào, có nơi nào chờ đợi để níu giữ cái thiện ở lại với các em? 

ĐOÀN MAI HƯƠNG

Tin cùng chuyên mục