Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau vừa được công nhận có quy mô 371.506 ha với 3 vùng: vùng lõi 17.329ha, vùng đệm 43.309ha và vùng chuyển tiếp 310.868ha. Tại vùng lõi được chia làm 3 vùng nhỏ là các phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn Quốc gia (VQG) Mũi Cà Mau, VQG U Minh Hạ và dãy phòng hộ ven biển Tây. Nơi đây có nhiều hệ sinh thái đặc trưng điển hình như: Hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái đất ngập nước than bùn, hệ sinh thái biển... Mỗi hệ sinh thái đều lưu giữ các nguồn tài nguyên sinh vật, tài nguyên địa chất phong phú có giá trị bảo tồn cao.
Nơi đất nở ra, nơi rừng biết đi
Không biết tự bao giờ thiên nhiên đã ưu ái cho Cà Mau một bãi rộng nằm chếch vế phía Tây. Nơi ấy, trên bản đồ được gọi là vũng Cà Mau, chạy dài từ Mũi Bùn đến Bà Quản. Bãi bồi nằm trải rộng trên địa phận 3 huyện Năm Căn, Ngọc Hiển và Phú Tân, trên chiều dài gần 150km bờ biển và rộng khoảng 240km².
Trong “Tiểu giáo trình địa lý xứ Nam Kỳ” ấn hành năm 1875, tác giả Trương Vĩnh Ký cho rằng: “Đa phần đất đai miền này là thứ đất phù sa gồm bùn và cát do tác động của dòng nước đem tới, rồi bị ngăn chặn hoặc giữ lại bởi rễ của các thứ cây đước, vẹt, dà, bần...”.
Mũi Cà Mau là một bãi bồi rộng mênh mông, ngày đêm vươn dài ra biển. Theo các nhà khoa học, hơn 1 thế kỷ qua, mũi đất đã dài ra thêm 4km; tốc độ bồi lắng ra biển của Mũi Cà Mau trước đây hàng năm khoảng 90 - 100m và hiện nay là khoảng 50m/năm.
Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, trong một lần về thăm Cà Mau, đã khẳng định rằng: “Không ở đâu trên đất nước Việt Nam này, đất lại nở ra như ở Mũi Cà Mau”.
Nhà văn Nguyễn Tuân gọi Mũi Cà Mau là “Ngón chân cái chưa khô bùn vạn dặm”, trong khi nhà thơ Xuân Diệu ví von: “Tổ quốc ta như một con tàu/ Mũi thuyền ta đó mũi Cà Mau”.
Theo nghiên cứu sơ bộ của các nhà khoa học từ Trường Đại học Cần Thơ, hiện có 20 loài tôm, 51 loài cá, ngoài ra còn có các loài cua, ghẹ, sò huyết phát triển khắp khu vực bãi bồi. Hàng năm cứ khoảng đầu tháng 4 đến cuối tháng 10 âm lịch, các loài thủy sản biển lại vào khu vực này để sinh sản. Bãi bồi trở thành một người mẹ khổng lồ tái tạo nguồn lợi thủy sản lý tưởng cho vùng biển Cà Mau và các vùng biển lân cận.
Ông Ba Nhớ, một trong những cư dân sống lâu năm ở xóm Đất Mũi, kể: Từ khi gia đình ông đến sinh cơ lập nghiệp nơi miền cuối đất này, nay đã gần 100 năm. Hồi đó, nhà ông nằm sát biển, còn bây giờ, từ xóm đất Mũi ra tới bờ biển phải mất gần 4km. Theo quy luật tự nhiên, hiện bãi bồi đang trong quá trình bồi lắng. Nó lớn dần, tiếp tục vươn mình ra biển và ngày càng cạn dần. Trước tình hình này, tỉnh Cà Mau đang có kế hoạch di dời cột mốc ra xa ngoài khơi thêm khoảng 3 hải lý nữa.
Mũi Cà Mau đang ngày đêm vươn dài ra biển. Ảnh: T.M.T.
Rừng ngập mặn Cà Mau là một hệ sinh thái độc đáo và đa dạng, đứng hàng thứ hai thế giới, sau rừng Amazon của Nam Mỹ. Rừng là một thảm thực vật bao gồm nhiều loại cây: đước, mắm, vẹt, bần, dá, su, cóc, dà, chà là, nhiều loại dương xỉ và dây leo… Trong đó, đước là loài cây chiếm đại đa số và có giá trị kinh tế cao.
Rừng đước thuộc 3 huyện Ngọc Hiển, Phú Tân và Năm Căn là vùng sinh thái đặc biệt do thiên nhiên nhào nặn từ nguồn phù sa của các con sông lớn trong đất liền như Cửa Lớn, Đầm Cùng, Bảy Háp, Đầm Chim... đổ ra gặp thủy triều lên, lắng tụ, bồi đắp cho Mũi Cà Mau tiến dần ra biển từ nhiều thế kỷ nay.
Một phần trong vùng lõi được bảo vệ nghiêm ngặt vừa được công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới thuộc Vườn quốc gia U Minh Hạ (rộng 12.203 ha, thuộc các xã Đất Mới, Lâm Hải, Viên An...). Đất bồi đến đâu, cây rừng mọc xanh đến đó dệt nên tấm thảm rừng đước đặc thù Đông Nam Á - tài nguyên vô giá.
Tài liệu địa lý do người Pháp soạn ghi nhận: Trong vòng 50 năm từ 1900 đến 1950, 10.000 ha rừng ngập mặn đã bắt rễ trên biển. Ngoài diện tích trên, rừng ngập mặn Cà Mau còn một dãy rừng phòng hộ ven biển kéo dài từ Đông sang Tây (từ Bạc Liêu xuống tới Mũi Cà Mau và đi dọc sang biển Tây tới cửa biển Khánh Hội huyện U Minh) dài 307km liền một mạch duy nhất, dãy rừng ngập mặn này là một trong những dãy quan trọng nhất của thế giới.
Đước từ lúc ra hoa đến khi trái chín phải mất 6 tháng, trái đước nảy mầm từ lúc còn treo lơ lửng trên cây, khi rụng xuống được sóng biển trôi dạt khắp nơi, gặp nơi bùn lầy, trái đước trụ lại, rễ non bám vào phù sa, quá trình bén rễ cũng là quá trình nâng trái đước đứng thẳng lên. Nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật Bản cho thấy: Sau vành đai rừng dày, vận tốc gió giảm đi rõ rệt và cách xa 15-20 lần chiều cao của tán rừng gió mới đạt lại vận tốc ban đầu; sóng biển có biên độ 1m đi qua đai rừng có bề dày 1,5km thì động năng của sóng hoàn toàn bị triệt tiêu.
Điểm đặc biệt là cây đước khi đã mọc thành rừng thì không có một loại cây gì có thể chen vào sống chung được nên rừng đước thường có sự phân chia lãnh địa riêng lẻ: đước ra đước, mắm ra mắm, chà là ra chà là… chúng sống chung trong môi trường là đầm lầy ngập mặn chứ không sống chung bên cạnh nhau. Đây cũng là điểm khác biệt của rừng đước so với các loại rừng khác.
Ngọt ngào U Minh Hạ
Con sông Trèm Trẹm chảy giữa rừng, chia U Minh làm hai nửa. Nửa bên này thuộc Cà Mau là U Minh Hạ, nửa bên kia thuộc Kiên Giang là U Minh Thượng. Thời chiến tranh, nhân dân chỉ quen gọi là rừng U Minh. Với đặc điểm hệ sinh thái ngập nước ngọt, lợ, rừng tràm tự nhiên (có tự lâu đời) là kho sản vật quý giá của đồng bằng Nam bộ. Rừng U Minh Hạ bao gồm 3 huyện U Minh, Thới Bình và Trần Văn Thời với diện tích hơn 60.000ha (trước năm 1975). Hiện nay diện tích chỉ còn trên dưới 30.000ha và đã gom lại toàn bộ cho huyện U Minh quản lý theo quyết định của UBND tỉnh Cà Mau vào cuối năm 2007.
Một góc rừng U Minh Hạ. Ảnh: QU.MINH
Thiên nhiên ở rừng U Minh Hạ hùng vĩ và hoang sơ. Ngoài cây tràm, còn có khoảng 200 loài thực vật khác, ngoài việc cung cấp gỗ, còn cung cấp tinh dầu, dược liệu quý hiếm và làm cây kiểng… Với quần thể thực vật đa dạng và phong phú đó, U Minh Hạ là nơi lý tưởng cho các loài chim muông, thú rừng, thủy hải sản trú ngụ và sinh sôi nẩy nở. Những thân tràm lụt vòng tay ôm mới hết; heo rừng, nai, khỉ, rùa rắn, các loại chim quý... đã từng có mặt trong “Đất rừng phương Nam” của nhà văn Đoàn Giỏi hay pho khảo cứu công phu của nhà văn Sơn Nam, những giai thoại có một không hai của Bác Ba Phi và biết bao sách vở, phim ảnh về khu rừng này.
Nhà thơ Lê Chí từng viết: “...Nếu như một nửa phần trái đất/Được chở che bằng bóng mát của rừng/ Thì lẽ đâu không có bóng cây tràm/Không có bóng một đời lam lũ/Của con người sống chết với U Minh...”.
Quả thật, rừng U Minh tự bao giờ đã trở thành ngôi nhà của những người sa cơ lỡ vận thời ly loạn, là căn cứ địa của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Với kỳ tích “làng rừng” độc đáo, khu căn cứ địa này từng là nơi ở và làm việc của nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng như đồng chí Lê Duẩn, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn Linh...
Hệ sinh thái rừng tràm U Minh Hạ đã được các nhà khoa học đánh giá là có giá trị sinh khối (Biomass), được xếp vào loại cao trong các kiểu thảm rừng ngập nước trong khu vực. Lớp than bùn nguyên sinh trên tầng sinh phèn trong môi trường yếm khí ngập nước đã trở thành lớp đệm của tự nhiên vừa có tác dụng lọc nước, giữ ẩm điều hòa cân bằng nước, vừa có tác dụng ngăn chặn quá trình lan truyền phèn bảo vệ và cân bằng môi trường trong hệ sinh thái cho sự phát triển của tính đa dạng sinh học trong hệ sinh thái rừng tràm U Minh. Theo nhận xét của Chương trình MAB quốc tế (con người và sinh quyển), trên thế giới khó có thể tìm được một khu tương tự như rừng U Minh của Việt Nam.
Để bảo tồn khu vực rừng tràm quý hiếm này, từ năm 2006, Chính phủ đã quyết định thành lập Vườn quốc gia U Minh Hạ. Vườn có diện tích trên 8.300 ha, trong đó có trên 7.400 ha đất có rừng. Đây là bảo tồn nguồn gien của nhiều là động vật quý hiếm, góp phần giữ vững môi trường sinh thái. Vườn Quốc gia U Minh Hạ thành lập trên cơ sở sáp nhập Khu bảo tồn thiên nhiên rừng đặc dụng Vồ Dơi và một phần diện tích lâm phần rừng tràm U Minh Hạ hiện nay.
Theo ông Nguyễn Văn Thế - Giám đốc VQG U Minh Hạ, rừng U Minh đã trải qua nhiều thời kỳ gian khó. Trong chiến tranh, giặc Mỹ từng rải thảm bom napal để đốt rừng, tìm dấu vết căn cứ cách mạng. Từ sau giải phóng đến nay, rừng U Minh Hạ đã chịu đựng nhiều vụ cháy lớn, thiệt hại không kể xiết. Hiện trong VQG chỉ có khu rừng đặc dụng Vồ Dơi (rộng khoảng 3.000ha) là khu rừng nguyên sinh duy nhất ở U Minh Hạ từ trước tới nay chưa hề bị cháy.
“Cà Mau là một vùng còn nhiều bí ẩn về đa dạng động thực vật đầm lầy của Việt Nam, cần phải được tiếp tục nghiên cứu”, ông Dương Tiến Dũng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau nhận định. Theo ông Dũng, khi được công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới, Cà Mau có cơ hội để thế giới biết đến nhiều hơn.
Trong tương lai, du lịch Cà Mau chắc chắn sẽ phát triển. Nhằm bảo tồn cảnh quan thiên nhiên, sự đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng tràm trên đất than bùn, bảo tồn nguồn gien các loài động thực vật quý hiếm, sử dụng bền vững tài nguyên rừng, các sản phẩm dưới tán rừng, đồng thời phục vụ nghiên cứu khoa học và phát triển du lịch sinh thái, giải trí, nghỉ dưỡng cho người dân trong tỉnh và khách du lịch; UBND tỉnh Cà Mau đã phê duyệt dự án đầu tư xây dựng VQG U Minh Hạ, với tổng kinh phí 144 tỷ đồng.
Dự án gồm phát triển du lịch sinh thái gắn liền với khu bảo tồn của VQG U Minh Hạ. Hiện tại, hệ thống đường nhựa, hệ thống cấp nước sinh hoạt xuyên rừng và thang quan sát cùng một số hạng mục công trình khác đã được xây dựng, phần nào đáp ứng nhu cầu của giới nghiên cứu và khách tham quan du lịch đến với hệ sinh thái U Minh.
Nhiều đơn vị khai thác du lịch trong và ngoài nước đã quan tâm đến khảo sát tìm hiểu và hiện đã có 7 doanh nghiệp đăng ký đầu tư khai thác du lịch tại đây. Ngoài ra, cùng với dự án bảo tồn thiên nhiên thuộc Bộ NN-PTNT, tỉnh cũng đã xây dựng dự án bảo tồn và phát triển VQG Mũi Cà Mau, hiện dự án đang được triển khai.
Vấn đề đang đặt ra là địa phương phải nâng cao hơn nữa công tác quản lý và bảo vệ rừng; hạn chế thấp nhất việc tác động vào rừng để gìn giữ khu di sản thiên nhiên quý giá này.
Hệ sinh thái rừng U Minh Hạ U Minh Hạ được xác định là một trong những vùng có trữ lượng than bùn lớn nhất nước. Theo Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Nam (Bộ Tài nguyên và Môi trường), tổng trữ lượng than ở vùng này khoảng 14 triệu tấn, có chất lượng thuộc loại tốt nhất do được tạo thành chủ yếu từ mùn thực vật bị phân huỷ cao, không lẫn sét, ít lưu huỳnh, hoàn toàn có thể đảm bảo để sản xuất chất đốt, phân hữu cơ vi sinh và acid humic. Có 78 loài thực vật thuộc 65 chi, 36 họ, trong đó có 11 loài cây có gỗ. Về động vật, lớp vú có 23 loài, lớp chim có 91 loài, bò sát có 36 loài, lưỡng cư có 11 loài. Đặc biệt, có nhiều loài quý hiếm như rái cá chân đỏ, trúc (tê tê)... Trong đó, khu vực có than bùn rộng trên 6.000ha với độ dày trung bình 0,3-1,2m. |
Trần Minh Trường