SGGP Official Website - Saigon VNN - Nửa đời gánh chữ lên ngàn...
Nửa đời gánh chữ lên ngàn...
21:37', 8/10/ 2004 (GMT+7)

Tôi lên với đồng bào Vân Kiều ở Trường Xuân, tỉnh Quảng Bình trong một ngày thu. Nơi đây vào khoảng thời gian năm 1971 gần 100% người Vân Kiều không hề biết chữ. Ba mươi tư năm sau gần 100% đồng bào biết được con chữ là thế nào. Công lao ấy phải kể tên thầy Trương Điu.

  • Giữa đại ngàn nghe chuyện chữ Bác Hồ

Đồng bào Vân Kiều hồn hậu nói rằng: “Nhờ thầy Điu bập bùng cho chữ ba mươi tư năm mà biết được chữ của Đảng, của Bác Hồ như ánh sao soi tỏ giữa vạn lý Trường Sơn ni. Nhờ thầy Điu mới biết Đảng từng ngày từng giờ trằn trọc suy tư đưa dân bản tiến kịp dưới xuôi...”. Ba mươi tư năm là cả nửa đời người, với thầy Điu bây giờ đi đâu ở đất Trường Xuân, từ đứa nhỏ đến cụ già ai cũng “thưa thầy”. Tôi đã qua mười hai bản Vân Kiều ở đây, thật sung sướng khi được nghe nhà nhà vang tiếng trẻ ê a đánh vần.

Thầy Điu và những học trò Vân Kiều ở bản Lâm Ninh.

“Hôm nay dân bản Vân Kiều chộn rộn lắm. Con gái, con trai gọi nhau từ sáng sớm đi học cái chữ của thầy Điu. Hôm nay cũng như nhiều tháng năm đã qua, những ngày vui hay trong những lúc gian khó nhất, bên đồng bào Vân Kiều ở Trường Xuân không lúc nào vắng thầy Điu. Người Vân Kiều ở Trường Xuân ơn Đảng, ơn Chính phủ đã cho thầy Điu lên với đồng bào.

Để có ngày hôm nay, từ trong sâu thẳm lòng mình, đồng bào Vân Kiều ở đây ơn sâu nghĩa nặng với thầy Trương Điu lắm”. Trưởng bản Lâm Ninh, Hồ Nam trước đây học chữ với thầy Điu, bây giờ con Hồ Nam cũng được thầy dạy đã xúc động nói vậy ngay từ những phút mới gặp tôi. Cũng phải thôi, ba mươi tư năm qua thầy Trương Điu cần mẫn bám rừng, vận động trẻ Vân Kiều học chữ. Nhiều gia đình có những ba thế hệ học lấy con chữ thầy Điu dạy mà thành người. Trò của thầy bây giờ là chủ tịch xã, là đồng nghiệp...

Đầu năm 1971, thầy Trương Điu cưới vợ, tháng 11 tình nguyện cõng chữ lên với đồng bào Vân Kiều ở Trường Xuân. Cả nửa cuộc đời của vợ thầy, chị Nguyễn Thị Hòa, nay đã 57 tuổi, đằng đẵng chia lửa với chồng dưới xuôi không một lời than thở. Hai người có năm con, nay đã nên người. Thật phúc. Đồng bào Vân Kiều vốn mộc mạc chân tình, đã ưng cái bụng thì thật là ưng. Một giáo viên miền xuôi như thầy Điu, nói tiếng lạ, ăn mặc cũng lạ, lạ lắm trong mắt dân bản, đã vượt qua những trở ngại về phong tục tập quán, thầy miền xuôi nhanh chóng hòa nhập với người Vân Kiều, được đồng bào cưu mang, yêu thương như một thành viên trong cộng đồng.

Ở bản Khe Ngang, Hồ Xan nói về thầy Điu rằng: “Ai cũng quí mến thầy, thầy cho dân bản biết tấm lòng của Đảng, thầy dạy anh em miền xuôi, miền ngược đoàn kết để làm ăn khấm khá, ai cũng nghe. Không có chữ thầy Điu thì đồng bào mình còn mải miết lang thang trên rừng sâu thôi. Có thầy cái bụng đồng bào sáng ra, cái trí dân bản biết cách mần ăn thích lắm. Hồi đầu thầy lên kêu đi học, chưa ưng cái bụng, hồi đó cái chữ không ăn được nên không ai đi. Sau này hiểu ra cái chữ cho đồng bào biết làm ăn, biết đọc sách báo là bỏ săn con thú trên rừng về học chữ”.

Mẹ con Hồ Tam đã biết đọc biết viết thành thạo từ cái tâm thầy Điu.

Gặp thầy Điu, thầy chẳng kể nhiều về bản thân, chỉ nói chút ít khoảng thời gian ba mươi tư năm trước: “Thời đó nơi nào cũng khó khăn trăm bề. Tui lên đây mới biết được khắc nghiệt miền núi. Mấy năm trời, chẳng biết gạo là gì. Nhưng khó khăn cỡ nào cũng phải đem chữ cho đồng bào, khi đó họ mới nghe mình được. Nơi gian nan nhất là nơi hiểu tấm lòng của nhau chú nờ. Đói nên tui trồng sắn, trồng khoai rồi bà con học theo, không phát đốt cốt trỉa mà trồng thứ này thứ nọ, nuôi con heo con gà...”.

Xoay ra trò chuyện với dân bản, Hồ Phong - trưởng bản Khe Ngang - tâm sự: “Lúc mới lên thầy cực đáo để. Đồng bào cũng cực nên chẳng giúp chi được, cháo bẹ rau măng với thầy, rứa mà thương lắm cán bộ ơi! Có chi ngon ai cũng dành cho thầy, vì thầy để vợ con dưới xuôi lên đây cho đồng bào cái chữ là biết tấm lòng thầy thương lắm”. Với dân bản Vân Kiều tại Trường Xuân, con ma rừng không bám đeo dai dẳng cuộc sống của họ nữa vì khi khó khăn thiếu thốn đã có thầy Điu chăm sóc tinh thần, động viên bà con vượt khó vượt khổ. Bà con dân bản quý thầy, tin thầy bền chắc như cây lim cây dẻ trong rừng.

  • Chân dung thầy Trương Điu

Tôi gặp thầy trong căn nhà nhỏ giữa thôn núi Kim Sen đất Trường Xuân. Căn nhà chẳng có gì giá trị, hoàn toàn giản dị cho một đời thanh bạch phấn trắng. Chiếc radio bán dẫn là thứ quý nhất giúp thầy biết được thông tin bên ngoài để kể cho dân bản biết đất nước từng ngày tươi xinh như thế nào. Ấn tượng nhất là đầu tóc hói, chứng tích của những trận sốt rét ác tính. Chuyện sốt rét, dân bản nhắc lại cảm động rằng, bà con suýt nữa vĩnh viễn mất thầy. Một hôm dân bản không thấy thầy lên lớp, tưởng thầy bỏ về xuôi nên kéo đến nhà. Thầy Điu nằm trên giường run lẩy bẩy, mặt tái mét.

Trận sốt rét ác tính vùi xuống bất ngờ. Dân bản, người lo vào rừng hái thuốc, người đốt lửa sưởi ấm, người lo nấu cháo trắng mà nước mắt lưng tròng sợ thầy không qua được. May Giàng thương để thầy sống. Đồng bào vui mừng khôn tả. Lần khác, thấy trong người khang khác, thầy nói với đồng nghiệp: “Mai bây chộ tau treo khăn trắng trước nhà thì vô đem tau đi viện”. Hôm sau thầy sốt thật. Nặng hơn lần trước. Bà con Vân Kiều lại nước mắt lưng tròng, vì thầy Điu là thịt là máu của đồng bào rồi. Ai đã từng sống với đồng bào vùng cao, hiểu đồng bào mới thấm được niềm hạnh phúc khi dân mến dân tin. Cũng may thầy qua được. Bà con lại vui mừng khôn tả. Thầy Điu đôn hậu, chất phác như nông dân, ngày ngày nhẹ nhàng rót từng con chữ vào trái tim khối óc đồng bào. Ba mươi tư năm ở Trường Xuân, thôn bản nào thầy cũng mang con chữ vào.

 Năm nay thầy bám bản Lâm Ninh, phải chèo đò chở chữ qua sông Đại Giang. Mặc cho nắng mưa, ngày nào thầy cũng chắt chiu tinh lực đến với học trò Vân Kiều. Tôi theo thầy qua bản Lâm Ninh mới biết học trò mới lớp một lớp hai nhưng trìu mến thầy đến lạ lùng. Lũ trẻ có đứa áo quần rách lắm, có đứa mang đôi dép hai chiếc hai loại nhưng với con chữ của thầy Điu truyền cho, chúng mê đắm đầy kiêu hãnh.

Bây giờ những bản Vân Kiều heo hút ở Trường Xuân giữa đại ngàn Trường Sơn đã vang vang tiếng hát, tiếng đọc bài tuy còn ngọng nghịu nhưng đó là thanh âm mới của cuộc sống, là niềm khát khao của đồng bào trong nỗ lực tiến kịp miền xuôi. Đường đến với đồng bào phải qua bao núi cao suối sâu. Bản Na Lâm xa nhất, phải đi mất một ngày, thầy Điu cũng đã tới, đôi chân của thầy đã đi bao nhiêu cây số đường rừng không ai tính được. Chỉ có đại ngàn, chỉ có đồng bào mới biết được. Giữa đại ngàn con suối vẫn chảy, bước chân thầy Điu không lúc nào ngơi trên núi cao, rừng sâu, để đưa con chữ đến với đồng bào, đem lại cho đồng bào niềm tin yêu về cuộc sống mới. Thế nên một đồng nghiệp của thầy nói rằng: “Thầy Điu có bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, hai bằng khen xóa mù chữ, Huy chương Vì sự nghiệp giáo dục, Huy chương Vì sự nghiệp Công đoàn, Huy hiệu Bác Hồ. Rứa là giống anh hùng anh hè?”...

Chia tay thầy Điu lúc chiều tối ở bản Na Lâm, thầy xiết tay tôi thật chặt, học trò nán lại lao xao tiếng chào từ biệt. Đến dốc Ma Nang trời đã tối, ngoảnh lại nhìn những bản Vân Kiều nhà nhà đã nổi lửa, nhìn xa như những chấm sáng tựa ánh mắt người luyến lưu gửi về xuôi tấm lòng dân bản .

NAM DƯƠNG


In trang Gửi phản hồi Về đầu trang

CÁC TIN KHÁC >>
Ai đến ở chung cư?   (07/10/2004)
Đường băng ở thung lũng gió   (06/10/2004)
Hàng loạt sai phạm cố ý làm trái   (06/10/2004)
Chưa hiệu quả   (04/10/2004)
Sôi động các nhóm nhạc ngoại  (03/10/2004)
Bài 2 Dám nghĩ, dám làm và biết cách làm  (01/10/2004)
Ám ảnh Mèo Vạc  (01/10/2004)
Bài 1: Mơ về một ngôi làng...   (01/10/2004)
Nỗi niềm Rạch Miễu...   (29/09/2004)
Hà Nội “sốt” lô đề  (28/09/2004)
Khi yến sào bị...“xào”   (27/09/2004)
Đầu tư hiện đại, tổ chức quản lý lạc hậu   (27/09/2004)
Thời...xế hộp  (26/09/2004)
Phú Quốc đang chờ sự chấn chỉnh  (25/09/2004)
“Đại gia” nghêu đồng bằng   (24/09/2004)