Chiều tối, dọc theo cửa biển Sa Cần vài kilômét có hàng trăm chiếc đèn thả nổi lơ lửng trên mặt nước. Tôi cứ ngỡ là ngày cúng cô hồn của người dân sông nước vùng này. Anh bạn tôi bảo: “Không phải cúng cô hồn đâu, mà là họ kéo đèn giăng rớ bắt cá. Nghề này coi đơn giản vậy chứ hái ra tiền đó ông!”. Nghe hơi lạ nhưng có vẻ hấp dẫn, tôi tìm đến những người làm nghề này, kiếm mấy con cá lai rai chơi...
Tìm đến thôn Sơn Trà, xã Bình Đông, huyện Bình Sơn (tỉnh Quảng Ngãi) hỏi về những người làm nghề rớ sông, một người dân ở đây bảo: “Muốn xem cá, chú mày cứ đến nhà thằng Chương, nó là người đầu tiên “sáng tạo” nghề này!”.
|
| Tàu thuyền của ngư dân xã Bình Đông, huyện Bình Sơn. |
Anh Chương bảo: “Người ở vùng sông này sống chủ yếu bằng nghề đi biển, còn nghề rớ chẳng có gì lạ, nhưng ít người làm, vì ngày trước nghề này không đủ sống, ai tiết kiệm mới đủ ăn ngày hai bữa. Tui cũng có mấy năm bỏ nghề này theo nghề biển, phải bôn ba ra Bắc vào Nam cực nhọc lắm. Nhưng từ ngày cưới vợ, đổi phương cách làm rớ đèn thì làm ăn được hơn, thu nhập gấp mấy lần đi biển ngày trước…”.
Anh Chương giải thích: “Dụng cụ thì đơn giản lắm, chỉ cần một tấm lưới, 4 cọc tre, 6-7 cái đèn măng xông, dây thừng, một chiếc xuồng (hay thúng) và phải có 2 người. Mục đích dùng đèn là để cho cá thấy ánh sáng mà kéo đến. Mình dùng dây rồi móc phao vào, cột đèn măng xông thắp sáng trên phao. Sau đó, thả dây phao dài theo dòng sông, cứ nửa giờ chèo thúng tắt một đèn, cá lại thấy ánh sáng của đèn bên cạnh tập trung đến... Cứ thế dẫn cá dần dần vào rớ đã chuẩn bị sẵn, người ngồi trên bè rớ (được làm như ròng rọc) quay rớ cất lưới lên (tấm lưới có bề dọc 14 sải, sâu 9 sải và bề ngang 6 sải).
Với cách làm này, mỗi đêm kiếm được trên dưới triệu đồng là chuyện thường”. Anh Chương mời: “Chú muốn “mục sở thị” thì theo anh ra rớ xem cá cho sướng mắt”. Tôi theo anh leo lên thúng chèo ra bè rớ ngồi. Chưa ấm chỗ, anh bảo: “Chừng 1 giờ nữa mới có cá, ngồi chơi đợi anh đi thả đèn đã”. Và đúng là mẻ cá đầu tiên kéo lên đầy lưới, dễ chừng vài chục ký cá.
Anh Chương nói: “Vậy là ít đó, có hôm ngồi trong nhà nhìn ra thấy cá bu kín cả rớ, ra quay rớ lên được đầy ắp 2-3 thúng chèo này. Đó là chưa kể có khi một đêm đánh được 2-3 tấn cá, mà cá có đủ các loại: cá cơm, cá sơn, cá kình... thì bán cho người ta muối mắm; còn cá đối (35.000 đồng/kg) thuộc hàng xuất khẩu, nhiều đêm được 3 tạ cá đối... đếm tiền mệt nghỉ”.
|
| Rớ giăng ở cửa biển Sa Cần, huyện Bình Sơn. |
Dọc hạ lưu dòng sông Trà Bồng khoảng 3km bây giờ, có hàng chục người cũng sinh sống bằng nghề này như anh Chương, ai cũng sống thảnh thơi, thu nhập hơn nghề biển rất nhiều.
Nghề rớ là nghề ngày ngủ, đêm làm. Một tháng làm miệt mài, chỉ nghỉ mấy ngày trăng quá sáng. Đến tháng 9-11 âm lịch là mùa mưa gió não nề, nước sông dâng cao nên nhiều người nghỉ, không làm nữa, bởi sợ nước cuốn trôi, nước đục nên đèn không đủ sáng để dẫn cá vào. Vì vậy họ phải dựa vào thủy triều để xem con nước lớn, ròng và dần dần rút ra kinh nghiệm, nhưng để cho dễ nhớ, họ thường ghép câu nói thành vần, đại loại như: “Ba mươi mồng một, rớ cột nước lên”.
|
| Anh Chương chuẩn bị đèn trước mỗi đêm đi rớ. |
Tôi đi cùng vợ chồng anh Chương ra sông. Nhìn xung quanh khúc sông tôi chỉ thấy có mấy bè rớ có người ra. Nghề này phải có kinh nghiệm mới có nhiều cá. Gia đình anh Chương mấy đời sống chủ yếu bằng nghề này nên mưa nắng gì cũng làm. Rồi anh nói cho tôi biết mùa này cá nào thường đi theo dòng nước chảy, cá nào thường nằm “vịnh” (tại chỗ), cách đặt rớ lúc nước sông trong hay đục.
Tôi hỏi: “Không cần đèn anh bắt được cá không?”. Anh khẳng định: “Được, nhưng cá bắt được không nhiều bằng “kéo đèn giăng rớ” và đây là kinh nghiệm không thể “truyền” cho ai được.
Nghề rớ đèn hái ra tiền thật, nhưng vài năm nay làm không được nhiều cá như các năm khác. Những người làm nghề này ở đây cho rằng, đó là do nước sông bị ô nhiễm, lòng sông bị bồi cạn (trước sâu 4-5 sải tay, nay còn hơn 2 sải) nên cá ít ở, lưới thả không được sâu xuống lòng sông. Tuy nhiên đây không phải là nỗi lo lớn nhất của họ, mà cái chính là mai mốt nơi này dự định làm 2 cầu cảng sẽ không có nơi làm bè thả rớ.
Ông Tiến ở thôn Tuyết Diêm, xã Bình Thuận cho biết: Hồi trước, ông làm nghề này mà nuôi cả gia đình, xây nhà cửa. Đến khi làm cảng Dung Quất thì rớ của ông không có chỗ dùng, nhà nước không có trợ giúp gì và chẳng còn việc gì để làm nên phải đi lặn thuê. Anh Chương bảo rằng, nếu không làm nghề này nữa thì anh chẳng biết làm gì, đành phải đi làm thuê, nhưng nghĩ đến cảnh tha hương phải xa vợ con thì thật ngao ngán.
Tạm biệt những người làm nghề rớ nơi đây, tôi đứng trên cầu Trà Bồng nhìn xuống lòng sông. Bóng nước loang loáng ánh hồng, hàng trăm chiếc đèn lay động, tiếng mái chèo vỗ nhè nhẹ xa dần...
Bài, ảnh: PHẠM ANH |