SGGP Official Website - Saigon VNN - Về nơi “mưa lở, nắng bồi”
Về nơi “mưa lở, nắng bồi”
22:30', 1/7/ 2005 (GMT+7)

Biết tôi muốn chụp một kiểu ảnh tàu thuyền đánh cá ra vào nơi cửa Đại, người chiến sĩ biên phòng đang làm nhiệm vụ bảo: “Giờ này chẳng có tàu nào dám đi, ai cả gan thì “đi” luôn cả tàu, vì cửa biển cạn quá mà! Muốn có tấm ảnh “ngon lành” thì đợi đến khoảng 15-18 giờ mỗi ngày, vì chỉ thời gian này mới có tàu đánh cá nối đuôi nhau đi biển”.

  • Cửa biển “mưa lở, nắng bồi”…

Hai chiếc tàu bị mắc cạn nơi cửa Lở.

Tôi không thể không ngạc nhiên khi đứng trước cửa Đại - nơi được coi là cửa biển thuộc loại lớn nhất tỉnh Quảng Ngãi - bởi 2 dãy cát ở Nghĩa An (Tư Nghĩa) và Tịnh Long (Sơn Tịnh) như muốn trườn sát vào nhau, ôm riết khoảng vài chục mét nước còn lại của cửa biển này.

Ấy vậy mà ngày nào cũng có mấy trăm chiếc tàu thuyền của ngư dân các xã khu Đông huyện Tư Nghĩa, huyện Sơn Tịnh từ cửa này ra khơi đánh cá. Có điều, tàu thuyền ở đây ra khơi không giống các nơi khác là khi qua cửa biển không cưỡi sóng phăng phăng vượt nhau đi hoặc dàn hàng ngang hoành tráng mà nối đuôi nhau trông như… học sinh sắp hàng vào lớp.

Lão ngư Võ Bê ở thôn Phổ An xã Nghĩa An huyện Tư Nghĩa bảo: “Gần cuối đời, tui mới thấy cái cảnh này. Nhưng phải đi như vậy vì nước chỉ sâu 3-4m thôi, chiều rộng cũng chỉ vài chục mét. Hai chiếc tàu không thể chen nhau vào ra được. Nhưng đó là lúc con nước lớn, chứ lúc trời tối, thủy triều rút, nước chỉ sâu gần 2m, tàu thuyền không dám mạo hiểm ra vào”.

Nói đoạn ông chỉ những hồ nuôi tôm ở bên kia con sông dẫn ra biển bảo: “Con sông này hồi trước cũng không hẹp như bây giờ, mà do làm hồ nuôi tôm lấn sông nên mới như vậy. Mùa nắng thì rứa còn vào mùa mưa, cửa biển quá hẹp không thể thoát hết nước các nơi chảy về nên dồn lại vả vào bờ bên này, gây ra cảnh sạt lở bờ sông... Có điều so với cửa Lở thì tình trạng bồi, lở ở cửa Đại chẳng thấm tháp vào đâu”…

Từ cửa Đại, tôi trở ngược 180 độ đến cửa Lở. Tôi thật không tin vào mắt mình. Chính nơi cửa biển này vào mùa mưa năm trước, sóng đánh làm cửa biển mở toang hoác hàng cây số, liếm dần từng vùng đất ven biển, đuổi mấy trăm người di cư sâu vào đất liền. Ấy vậy mà giữa mùa hè này, dấu vết cửa biển bị lở mùa mưa năm ngoái đâu còn: Trước mặt tôi là một bãi cát trắng bao la, cửa biển hẹp chỉ còn trên dưới 20 mét. Xa xa trước mặt có hai chiếc tàu đang mắc cạn, một chiếc có công suất khoảng 40- 50 CV ghếch mũi lên cát nằm chết dí tại chỗ, còn một chiếc khoảng 15 CV đang có gần chục con người hì hục đẩy nó ra khỏi vùng nước cạn.

Ông Trần Chí Công ở thôn Tân Thạnh xã Nghĩa An huyện Tư Nghĩa ra cửa biển dòm chừng thủy triều để chuẩn bị cho tàu mình ra khơi, nói: “Chuyện tàu mắc cạn như hai chiếc tàu ngoài kia như “cơm bữa” ở đây. Ấy vậy nhưng cửa biển này là nơi ra vào của hàng trăm chiếc tàu của ngư dân xã Đức Lợi huyện Mộ Đức và hai xã Nghĩa Phú, Nghĩa An của huyện Tư Nghĩa”.

  • Số phận những con tàu

Những con tàu chờ thủy triều lên để ra khơi.

Ngư dân trong vùng kể rằng hai cửa biển ở hai đầu xã Nghĩa An đã gây biết bao điều phiền toái quanh năm, “hóa kiếp” không biết bao nhiêu chiếc tàu đánh cá trong vùng. Vào đầu tháng 5-2005, chiếc tàu 20 CV của ông Trần Hương ở thôn Tân Thạnh xã Nghĩa An đã bị tan tành ở cửa biển khi ngoài khơi trở về không đúng giờ…

Trước đó, tàu công suất 56 CV của ông Pháp ở thôn Tân Mỹ, xã Nghĩa An đụng cát không vào trong cửa được, nên bị lật nhào, gây cái chết thương tâm cho ông Võ Lãi- người làm công trên thuyền. Rồi ông Dương Minh Tánh bị mất chiếc tàu 52 mã lực vì cũng rơi vào tình cảnh như trên.

Cửa biển chật hẹp, tàu thuyền ra vào khó khăn là nguyên nhân khiến cho không ít tàu ở đây tìm đến các ngư trường ngoài tỉnh để đánh bắt, dù ở các nơi ấy họ phải tốn thêm nhiều khoản tiền khác như bến bãi, tài nguyên, tiền hoa hồng cho mối lái, rồi còn bị ép giá và tiền thuế phải đóng gấp đôi. Nhiều nơi ngoài tỉnh phương tiện đánh bắt không nhiều bằng ngư dân ở đây, nhưng địa phương quan tâm nạo vét cửa biển, nên tàu bè dễ vào ra.

Anh Trần Tấn, Chủ tịch UBND xã Nghĩa An, cho rằng: Nếu cửa Đại và cửa Lở được nạo vét thì không những thuận lợi cho hơn 1.000 chiếc tàu đánh cá của huyện Tư Nghĩa, huyện Sơn Tịnh, huyện Mộ Đức vào ra mà còn tạo thêm chỗ ở mới cho người dân trong xã (bởi xã Nghĩa An dân quá đông nên đất ở luôn là vấn đề nan giải trong mấy năm qua, trong xã có nhiều vùng đất trũng thấp chưa sử dụng được nên khi nạo vét cửa biển thì tận dụng đất cát đổ vào các vùng trũng ấy tạo mặt bằng làm đất ở mới cho người dân). Tiếc rằng, vấn đề này xã đã nhiều lần kiến nghị lên trên nhưng chưa được trả lời…

  • Khát vọng vạn chài

Với ngư dân vùng “mưa lở, nắng bồi” thì dù cửa biển có thế nào họ cũng dò từng con nước để ra khơi. Anh Trần Thành Công ở xóm 1 thôn Phổ An (Nghĩa An) có 4 chiếc tàu đánh bắt xa bờ, mỗi chiếc có công suất 300CV. Để chuẩn bị cho mỗi đôi tàu trước lúc lênh đênh gần nửa tháng trên biển cả, anh phải chuẩn bị 18.000 lít dầu, 700 cây đá, 2 tạ gạo, 4.000 lít nước.

Anh Công giãi bày: Vì cửa biển con nước bất thường nên muốn ra khơi có khi phải thức tới mấy ngày đêm để theo dõi nước lớn nước ròng. Trên tàu lúc nào cũng có máy bộ đàm và khi tàu quay về anh cũng phải gọi vợ để biết tình hình thủy triều nơi cửa biển mà tính toán, đặc biệt anh không bao giờ cho tàu về trong đêm vì sợ đụng cát. Tôi hỏi: Có trường hợp nào đánh được nhiều cá mà quay về gặp nước cửa biển cạn chưa? Anh bảo: “Có! những khi ấy, một là vào biển Tịnh Kỳ lấy đá ra ướp cá, còn không thì đậu ở đó rồi thuê thuyền chở về Nghĩa An qua con kinh ở Tịnh Khê. Tuy nhiên, nếu rơi vào trường hợp đó thì cá không ngon, và nhất là trễ thời điểm bán buôn, nên giá cả có giảm đôi phần”.

Khoảng tháng 6, tháng 7 hàng năm, nước ở hai cửa Đại, cửa Lở bị cạn nên tàu 45 CV của ngư dân phải lấy đá và nhiên liệu vào buổi sáng rồi chạy ra ngoài cửa neo lại. Những ai không thực hiện như thế sẽ trễ chuyến ra khơi. Vất vả vậy nhưng những đoàn thuyền đánh cá ở vùng này chưa bao giờ vắng bóng trên biển. Thiên nhiên không cản được khát vọng vươn lên của ngư dân vạn chài. Họ biết cách vượt qua khó khăn, vượt qua nỗi lo cửa biển đang cạn dần để hy vọng vào một ngày mai…

PHẠM ANH
 

In trang Gửi phản hồi Về đầu trang

CÁC TIN KHÁC >>
Xóm thúng ven sông  (30/06/2005)
Kỳ cuối: Ngoài sân cỏ  (30/06/2005)
Kỳ 1: Trên sân quần  (30/06/2005)
Nỗi đau di tích  (30/06/2005)
“Phu” xe đạp thồ   (28/06/2005)
Trăn trở cồn Quy  (28/06/2005)
Nghĩa tình đồng đội   (27/06/2005)
Do Đâu?   (26/06/2005)
Việc thiếu người, người thiếu chuyên môn   (25/06/2005)
“Niềm tự hào Việt Nam” trên đất Nhật   (23/06/2005)
Anh nông dân làm... công nghiệp   (23/06/2005)
Làng đói… xây phố lầu   (21/06/2005)
Tổng biên tập báo… làng   (21/06/2005)
Bài 2: Đất bỏ hoang, vẫn phá rừng lấy đất   (20/06/2005)
Bài 1: “Ăn” mất biển   (20/06/2005)