SGGP Official Website - Saigon VNN - Những người chèo đò đêm trên sông Ngã Bảy
Những người chèo đò đêm trên sông Ngã Bảy
21:8', 9/1/ 2006 (GMT+7)

“Đi chơi hôn em? Lên chị chèo lòng vòng ra doi Chành, doi Cát hóng mát?”. Nhìn hai mẹ con gầy gò trên chiếc xuồng ba lá mong manh tròng trành sóng nước giữa đêm đen đặc quánh, tôi thoáng ngần ngừ… Chừng đoán được suy nghĩ của tôi, chị bảo: “Hổng sao đâu cưng. Nếu có bị gì thì chị với con Lý cũng chịu như mấy em thôi hà!”. Câu nói quê mùa, tội nghiệp theo kiểu “thí mạng cùi” của chị không có cơ sở tạo sự an tâm nhưng làm người ta muốn rớt nước mắt. Khách vừa bước xuống, chị mừng rỡ đẩy chiếc xuồng ra sông Ngã Bảy. Kim đồng hồ chỉ đúng 9 giờ tối.

  • Chèo đò từ thuở mười hai

Dân xóm vạn đò: Ôm chèo chờ khách

– Má đi đâu vậy? - Tiếng đứa con gái ốm nhách đang đứng trên chiếc xuồng bên cạnh quýnh quáng hỏi theo.
– Ở đó rước khách đi, má chèo vô trỏng một lát má dìa.
Vừa nói với con, chị vừa chèo, vừa quay ra phân bua với khách: “Con gái tui đó, tên Kiều, năm nay 13 tuổi mà theo má đi chèo đò được 1 năm rồi. Nó cũng có đi học đó chớ, học lớp sáu. Ban ngày đi học, ban đêm đi chèo”.

Đêm tối làm khúc sông Hậu từ cầu Phụng Hiệp ra Doi Cát như rộng thêm ra. Người cầm chèo, đồng thời là người nắm giữ sinh mạng của kẻ không biết bơi như tôi là một phụ nữ trạc 30 tuổi. Chị tên Thu, nhà ở ven Doi Cát. Nhà nghèo quá, đồng lương công nhân nhà máy đường của anh không đủ sức lo cho đàn con, vậy là chị đẩy chiếc xuồng cũ – tài sản đáng giá duy nhất trong nhà xuống sông chèo mướn 7 - 8 năm nay. Ngày con Kiều còn nhỏ, chị hay để nó trong xuồng, ban ngày chịu nắng, ban đêm chịu sương qua lại rước khách sang sông.

Tới khi con nhỏ lớn hơn một tí, chị dạy nó biết cầm cái bơi, biết ngoay cột chèo, biết hướng mũi xuồng xuôi theo vòng sóng để xuồng khỏi bị lật úp mỗi khi gặp ghe tàu lớn. Con Kiều vừa thuộc mấy bài học chèo đò ở cấp độ vỡ lòng đó, chị đã cho nó “ra nghề”. Lúc đầu, khi nghe con nhỏ nho nhe ý định theo nghề của má, chị đã mắng át đi. Nhưng lần hồi chị nhận ra nếu không để nó chèo đò phụ đồng ra đồng vô, chắc chị không lo nổi cho mấy đứa con ăn học.

Cùng hoàn cảnh “ra sông” sớm như bé Kiều là Lý. Cô gái với “một năm trường học, chín năm trường đò” năm nay vừa tròn 21 tuổi. Học chưa vỡ mặt chữ, Lý đã nghỉ học ở nhà phụ ba má làm mướn. Tới khi Lý chưa kịp bước qua cái mốc “nữ thập tam”, chưa kịp thành thiếu nữ thì má em đã gom hết tiền bạc trong nhà sắm cho chiếc xuồng. Thế là Lý nghiễm nhiên trở thành cô lái đò trên sông Ngã Bảy, nghiễm nhiên cột đời mình vô chiếc xuồng mà lúc nào đứng trên đó em cũng có cảm giác tròng trành.

Lý kể: “Hồi mới ra chèo em run lắm, chỉ dám chèo cặp với mấy chị lớn. Tới khi rành đường, cứng tay, em mới dám tự mình rước khách”. Dấu ấn rõ nhất của gần 10 năm cầm chèo để lại trên thân thể Lý là đôi cánh tay vồng lên quá khổ, khiến người em như lệch hẳn đi. Biết làm sao! Đôi cánh tay ấy đã từng phải gồng lên hết sức mới thắng nổi sức nước đẩy trôi con đò lắm lúc chở tới 7 - 8 người.

  • Cư dân xóm vạn… đò

Nghề chèo đò mướn đã xuất hiện trên sông Ngã Bảy, Phụng Hiệp từ cái thời cầu Phụng Hiệp chưa xây, hưng thịnh nhất lúc xuồng máy chưa phổ biến, vỏ lãi chưa ken dày trên bến và phóng ào ào trên sông như bây giờ. Lần hồi, khi sự hiện đại, tiện nghi tràn cả xuống nước với tàu cao tốc, với ca nô thì việc mưu sinh bằng nghề chèo đò có phần thắt ngặt. Xóm chèo chỉ còn độ trên dưới hai mươi xuồng “trực chiến” trên bến gần chân cầu Phụng Hiệp.

Theo tháng năm, giá tiền qua một lần đò tăng từ 10 đồng, 50 đồng, 100 đồng 200 đồng và hiện tại là 500 đồng/khách vào ban ngày và 1.000 đồng/khách vào ban đêm. Không chỉ đưa khách qua sông, họ còn nhận chở người tỏa đi khắp 7 ngã sông với lộ trình mấy chục cây số. Người cầm chèo đa phần là trẻ em và phụ nữ nghèo. Người giàu, nếu có ý muốn ăn nhờ sóng nước thường sắm xuồng máy chở khách, vừa an toàn, vừa nhanh chóng mà lại được giá cao.

“Xăng lên giá thì xuồng máy còn có cớ tăng theo, chớ sức người chèo đò thì muôn đời vẫn vậy. Tuổi càng cao, cầm chèo càng không chắc, xuồng càng không vững, chèo cà rịch cà tang mới tới thì thiếu điều năn nỉ người ta mới chịu đi chớ tăng giá cái nỗi gì” - Nhí Em - một cư dân xóm chèo tâm sự.

Bị cạnh tranh gay gắt bởi xuồng máy, vỏ lãi máy, dân xóm chèo phải chia ca ra mà chèo, chia khách ra mà sống. Tốp chèo ngày được phân làm 2 ca: một ca từ hừng đông tới trưa, một ca từ trưa tới chiều. Tốp chèo đêm thì có mặt trên bến lúc trời chạng vạng tối. Người nào sức yếu thì chèo tới tầm 9 - 10 giờ tối, người dai sức thì cầm cự đến hết đêm. Một ngày, người chèo đò mướn phải nộp 5.000 đồng tiền bến bãi, bất luận chèo đêm hay chèo ngày. Thế nên người gặp cảnh khó thường tranh thủ đứng bến cả đêm.

Bà Ba Phê, cư dân cố cựu nhất của xóm chèo đò năm nay đã gần 70 tuổi nhưng vẫn thường xuyên bám bến cho tới sáng. Một bình nước nhỏ, cái nón lá rách, đôi dép mủ sắp đứt, cái áo lạnh thâm kim bỏ chỏng chơ gần cột chèo là tất cả hành trang bà đem theo mỗi đêm. Bà cười: “Có khách thì vắt hết sức chèo, không dám mệt. Lúc khách lên bờ rồi, nằm ngửa ra lòng xuồng, nhắm mắt lại cũng chỉ thấy đầu lùng bùng toàn mái chèo thôi.”

Xóm chèo mướn đã nghèo, khách hàng của họ cũng là những người nghèo. Người giàu quen ngồi đò cao tốc có thắt dây an toàn. Chỉ có người nghèo không tiền đi đò máy mới bước xuống đò chèo. Lý khoe, có lần em chèo chở hai vợ chồng nọ vào tận Bún Tàu cách bến đò gần 20 cây số trong đêm để nhìn mặt cha lần cuối. Chuyện gấp vậy mà họ không đủ tiền đi xuồng máy, phải nhờ đến chiếc xuồng của Lý. Chèo cả đêm như thế nhưng lâu lâu người xóm chèo mới dám ăn tô cháo khuya giá 3.000 đồng bán dạo trên sông. Ngán nhất là mấy ngày mưa bão, nước chảy cuộn xiết, dân chèo đò chỉ bận cái áo mưa “mì ăn liền” giá hai ngàn lên mình rồi đẩy xuồng ra sông.

…Xuồng chị Thu đưa tôi cập bến lúc sắp nửa đêm. Vẫn còn dăm bảy chiếc xuồng “nằm” chờ khách. Có người ngủ gục bên mái chèo. Vừa nhác thấy bóng mẹ, bé Kiều mừng rỡ sà đến nhưng chị đẩy con ra, hối nó rước mấy người khách vừa tấp xuống bến. Cái dáng nhỏ xíu, gầy gò của nó nhấp nhô, nhồi đập trên sóng, tiếng khua khoắng xa dần rồi mất hút trong đêm đen. Đêm phương Nam dập dềnh sóng nước, dẫu em có dạn dày sông nước đến mấy, tôi vẫn không sao quên được bé Kiều năm nay chỉ mới mười ba…

ĐOÀN MAI HƯƠNG


 

In trang Gửi phản hồi Về đầu trang

CÁC TIN KHÁC >>
Thư viện của thầy giáo Khanh  (08/01/2006)
Đoạn kết có hậu   (07/01/2006)
Làng say hát  (06/01/2006)
Đi tìm sự thật từ những mẫu xét nghiệm ADN  (05/01/2006)
Ký ức về một trận chiến không tiếng súng   (04/01/2006)
Buồn vui dưới chân Đồi 800   (04/01/2006)
Những vụ mùa tình nghĩa  (02/01/2006)
“Săn” đồ mùa giảm giá   (01/01/2006)
Bài 2: Điều phi lý - bao giờ thay đổi?  (30/12/2005)
Bài 1: Mất biển số xe “xịn”, mua ở đâu ?  (30/12/2005)
Nỗi đau Nậm Huống  (28/12/2005)
Nhà khoa học với 300 công trình  (27/12/2005)
Người giữ hồn cổ thụ   (25/12/2005)
Những chuyện bây giờ mới kể   (23/12/2005)
Những chuyện bây giờ mới kể   (23/12/2005)