|
Nói chuyện với chúng tôi, người thương binh ấy không nhớ hết những bước chân của cơ thể đã mất 78% sức khỏe kia từng âm thầm lặn lội tới những tỉnh Tây Ninh, Bạc Liêu, Cà Mau, Samát (CPC)... Chỉ biết rằng “cả vùng đất Nam bộ hầu như không nơi nào không có đồng đội tôi ngã xuống” và “tôi phải đi để đưa anh em về với gia đình, thực hiện lời hứa thời lửa đạn: thằng nào còn sống, dù có mù hai mắt cũng phải quay lại tập hợp anh em đã hy sinh”.
13 năm, gần trăm chuyến lặn lội, với một “ trí nhớ kỳ lạ”, anh thương binh Phạm Văn Nam (Hà Tây) đã tìm và đưa hơn 200 hài cốt là đồng đội mình về với gia đình.
“Tháng 8-1993, gần chục ngày sau khi rời viện quân y, tôi bắt đầu chuyến đi đầu tiên. Lần đó cũng chẳng định trước là tìm thằng nào. Chỉ biết rằng mấy tháng nằm điều trị vết thương ở đầu tái phát, hình ảnh thằng Hòa tịnh, thằng Huân lém... cứ hiện về. Đứa nhắc “mày còn cả hai mắt sao không đi tìm anh em, mọi người mong mày lắm”, đứa gọi “Nam ơi, đưa tao về Hà Tây với, ở đây lạnh quá”...
|
|
|
Anh Nam và gia tài, giấy báo tử, thư cảm ơn… của thân nhân các liệt sĩ. |
Rồi hình ảnh thằng bạn chí cốt trước lúc nhắm mắt vẫn cố níu áo “ nhớ đưa tao về”... Cái vết máu in hình năm ngón tay run run ấy theo tôi hơn hai chục năm, giờ càng ám ảnh. Đồng đội còn sống tới thăm cũng “ra lệnh”: mày phải sống để đi đưa chúng nó về! Mới có hơn nửa thời gian điều trị, tôi tìm cách xuất viện.
Vác cả túi thuốc lên tàu mà vợ cứ khóc thút thít nhưng tôi bảo: “Đồng đội nằm lại cho tôi sống tới hôm nay. Còn đủ tay chân, còn mắt, tôi còn đi tìm chúng nó”.
Lần ấy không biết run rủi thế nào mà trên chuyến tàu vào Nam, tôi tình cờ ngồi ngay hàng ghế với một phụ nữ, dăm ba câu chuyện mới giật mình ngã ngửa. Hóa ra đấy là vợ thằng Hòa, Nguyễn Đình Hòa, cũng đang trên đường đi tìm chồng. Thằng Hòa hy sinh trong trận đơn vị bị phục kích năm 1975 ở Bình Phước, chính tay tôi đã chôn cất nó, làm thủ tục rồi bàn giao giấy tờ cho ban chỉ huy quân sự địa phương. Thế là những hình ảnh của trận đánh năm nào, bìa rừng và hòn đá đánh dấu bên mộ Hòa cứ hiện về.
Chuyến ấy đi đúng vào mùa mưa ở Nam bộ. Tôi và gia đình Hòa phải thuê xuồng len rừng, xuyên qua những con rạch chằng chịt. Như có linh cảm mách bảo, không mấy khó khăn tôi xác định được vị trí cũ nhưng mọi người cứ đào tới đâu, những cơn mưa như trút nước của miền Nam lại xối đất xuống. Vật lộn với đám bùn đất dưới mưa tới 3 ngày mới rước được Hòa lên. Đứng trước linh hồn đồng đội, giữa chiến trường xưa, tôi khấn: “Hòa ơi, mày có linh thì đi cùng phù hộ cho tao tìm anh em. Tao sẽ quay lại đây tới khi nào đưa hết bọn mày về thì thôi”.
Đất bạn (Campuchia), tháng10-1998. Phải lội bộ 28km đường rừng mới vào được địa bàn cũ thuộc Samát. Thời gian làm cảnh vật thay đổi, tôi phải liên hệ với ban quân sự địa phương xin lại sơ đồ cũ. Rồi cứ sáng sớm tinh mơ từ Mộc Bài lặn lội sang, chiều tối mịt từ Campuchia về vì theo quy định, không được lưu lại qua ngày trên đất bạn. Ròng rã đi đi về về như thế tới hàng tuần mới đưa được thằng Tuấn (Quảng Ninh) về.
Lúc rước hài cốt nó sang tới bên này cửa khẩu Mộc Bài, tôi suýt xỉu, phần vì đi lại nhiều phần vì khi đi, dự trù kinh phí chỉ gói gọn trong dăm ngày nhưng lại kéo dài gấp đôi nên mấy ngày bên Samát toàn “chén” lương khô, mì tôm sống, dành tiền thuê người đào và thuê xe ôm. Sau chuyến ấy, tôi về nhà nằm luôn một tuần, hai chân sưng vù.
Tây Ninh tháng 2-2000. Kế hoạch là đi tìm thằng Huân cùng gia đình nó từ Mỹ Đức, Hà Tây. Khu rừng bời lời là nơi anh em Sư 7 dính mìn nhiều nhất. Tìm được Huân rồi tôi lại phát hiện còn gần chục hài cốt của anh em vẫn nằm bơ vơ ở đó. Thế là để gia đình Huân về trước, một mình tôi ở lại, cắm bạt, mắc võng giữa rừng tiếp tục công việc tìm kiếm. Thằng Xuân, thằng Tùng... chính tay tôi chôn cất chúng.
Cũng chính tay tôi đã đánh dấu bằng cách nhét mảnh giấy ghi tên, quê quán vào viên đạn AK (sau khi đã rút hết thuốc) rồi gắn viên đạn vào miệng từng đứa. Viên đạn AK vẫn còn, miếng giấy cái hoen vàng mờ hết chữ, cái dịch được dăm ba từ, đủ để phân biệt. Hơn tuần một mình đào bới, mười đầu ngón tay sưng tấy, tôi tìm được hơn chục hài cốt, đưa về nghĩa trang địa phương để ra Bắc tìm cách báo cho người nhà từng người vào rước về. Ai có địa chỉ cụ thể thì tôi viết thư, gọi điện báo; không thì thông qua chương trình nhắn tìm đồng đội”.
Lôi một tập những mảnh giấy nhỏ ghi địa chỉ gia đình thân nhân, anh Nam thở dài: “Thế mà cũng chỉ mới có phân nửa số đó được đưa về. Những thằng còn lại, đứa thì không hiểu sao tôi đã viết thư, gọi điện, lên ti vi tới gần chục lần mà gia đình không thấy hồi âm. Số khác thì gia đình nghèo quá, biết tin mà vẫn chưa đủ tiền vào đưa con ra. Tội lắm. Mình cũng chẳng có cách nào giúp hơn nữa”.
|
|
Anh Phạm Văn Nam (bìa trái) trong một lần quy tập mộ liệt sĩ tại nghĩa trang Tây Ninh. |
17 tuổi Phạm Văn Nam xung phong vào chiến đấu tại chiến trường miền Nam. Nhập ngũ năm 1973, tham gia đơn vị lính bộ binh Sư 7, Trung đoàn 141. Trò chuyện với chúng tôi, anh tâm sự, sở dĩ anh có thể nhớ được chính xác vị trí chôn cất anh em là do anh từng làm nhiệm vụ trinh sát của đơn vị. Mỗi khi có anh em hy sinh, anh lại làm thủ tục chôn cất, bàn giao cho địa phương.
Mấy chục năm đã qua cộng với vết thương trên đầu khiến trí nhớ của anh giảm sút nhưng không hiểu sao, sau lần vết thương tái phát và điều trị gần năm trời, thỉnh thoảng những lúc ngồi bán hàng nước hay đang đêm xem chương trình quân đội, xem bộ phim chiến tranh…, trong đầu anh hình ảnh đồng đội, khu rừng, con suối... nơi chôn cất từng anh em lại hiện về. Thế là anh bật dậy, chạy ngay ra bưu điện gọi cho bạn bè, hỏi địa chỉ người thân, rồi gọi cho từng gia đình. Cứ mỗi lần như thế là khởi đầu một chuyến hành quân mới của anh.
Trải đầy sàn nhà những giấy báo tử, địa chỉ quê quán, số điện thoại liên hệ, thư cảm ơn từ những gia đình có con em được anh giúp đưa về hay muốn nhờ anh đi cùng tìm giúp, cái từ Quảng Ninh, cái từ Hải Phòng…., anh Huân cười: “Cơ nghiệp của tôi đấy”. Rồi móc trong túi chiếc ví da đã sờn mép, bên trong cũng chứa đầy... giấy báo tử, số điện thoại... anh nói: “Tiền của tôi là những tờ giấy này”. Chỉ sang vợ, anh hóm hỉnh “Còn tiền để đi lại nằm ở kia”.
Chị Nguyễn Thị Khánh, vợ anh, đang lúi húi chuẩn bị đồ nghề chạy chợ, mắng khéo: “Tiền ở đống hoa quả, mấy mớ rau này cả đấy chú ạ. Hai vợ chồng cùng nghỉ chế độ 176, hai đứa con ăn học, cái hàng nước trà đá dưới cửa nhà cũng chỉ để bán cho vui thôi... Nhưng được cái mình làm việc nghĩa...”. Trung bình mỗi năm anh Nam hành quân ít nhất 2 chuyến, có năm lên tới 4, 5 chuyến. Mỗi lần đi tính tiền triệu. “Bà ấy cứ chạy chợ được bao nhiêu tôi lại vay sạch để đi, nhiều lúc nghĩ cũng thương vợ nhưng đành an ủi rồi tôi sẽ trả sau. Được cái bà ấy hiểu, thông cảm”.
Không ít lần thân nhân anh em tới nhờ cùng đi tìm giúp mà trong nhà chẳng có nổi một đồng, thế là chị Khánh, lại chạy sang hàng xóm, mượn tạm ít tiền trong dăm ba bữa cho anh đi. Căn nhà 12m2 mới xây “cũng là nhờ anh em đồng đội mỗi người góp một tay. Người cho vài nghìn gạch, người góp cho mấy tấm cánh cửa... Xây nhà mà tôi cũng có ở nhà được mấy đâu. Đi Tây Ninh về thì đã thấy nhà xây xong rồi”.
Anh cương quyết: “Hơn chục năm nhưng chưa bao giờ tôi lấy của bất kỳ gia đình nào một đồng. Nhiều người thấy tôi đi vất vả vì con họ, họ tính chuyện bồi dưỡng nhưng tôi nói nếu chỉ vì mấy đồng tiền ấy thì tôi chẳng đi như vậy”. Lại có người cùng khu phố mách, sao không làm cái bảng treo như kiểu dịch vụ, để xin trợ cấp giúp đỡ của một số tổ chức xã hội. Họ chẳng hiểu tôi”. Anh trầm ngâm “Đơn vị tôi ngày ấy có hơn ngàn người, bây giờ còn sống sót hơn trăm, số còn nằm bơ vơ ở chiến trường xưa có đến vài trăm. Khi nào tìm được hết anh em, tôi sẽ về làm trả nợ vợ con”.
Nói chuyện với chúng tôi, anh Nam thường tránh mỗi khi tôi hỏi về chế độ mà anh đang hưởng. Gặng mãi anh mới cho biết: “Tôi bị vết đạn găm nửa đầu, được xác định mất 78% sức khỏe. Năm 1986, lần vết thương phát tác mạnh nhất, tôi bị liệt nửa người tới hơn năm trời, chạy từ viện Cống Vị sang Quân Y... Đáng ra là thương binh loại 2 nhưng về người ta lại cho xuống loại 3, tôi không chịu. Làm đơn lên làm đơn xuống gần chục năm nay rồi, đi tới đâu họ cũng bảo phải chờ. Thì đành chờ chứ biết sao…”.
Hôm chúng tôi đến nhà anh là trước ngày đơn vị anh họp đồng ngũ. Anh đang lo tìm kiếm lại một số giấy tờ của những anh em còn nằm trong danh sách “những người vẫn đang ở chiến trường”. “Ngày mai có đông đủ những thằng còn sống sót, tôi phải tranh thủ hỏi thăm thêm thông tin. Nhiều người nhớ sẽ nhanh tìm ra hơn”. Nhìn anh nâng niu từng mảnh địa chỉ, từng bức thư và từng di vật, tôi thầm cảm ơn cuộc sống vẫn còn những con người, những công việc lặng thầm và cao cả...
MINH HƯƠNG
|