Khoa học Mỹ

Áp đảo giải Nobel 2006 nhưng vẫn tụt dốc

* Giáo dục đại học Mỹ đang tụt dốc
Áp đảo giải Nobel 2006 nhưng vẫn tụt dốc

Tất cả bốn giải Nobel nghiên cứu năm nay cho thấy Mỹ vẫn là anh cả trong làng khoa học thế giới. Tuy nhiên, điều này đồng thời là lời cảnh báo...

  • “Hiện tượng Mỹ” hình thành nhờ tài chính
Áp đảo giải Nobel 2006 nhưng vẫn tụt dốc ảnh 1

Chính sách thắt chặt luật nhập cư cũng khiến Mỹ đang mất đi nhiều tài năng (trong ảnh là một cuộc biểu tình phản đối luật nhập cư tại Mỹ vào tháng 4-2006).

Lịch sử giải Nobel là lịch sử chứng kiến sự thắng thế của khoa học Mỹ. Năm 2004, trong 10 khoa học gia giành các giải khoa học-nghiên cứu (y, lý, hóa và kinh tế), đã có 7 người Mỹ. Năm 2005, tỷ lệ trên là 5/10.

Nhiều nhà phân tích cho rằng “hiện tượng Mỹ” hình thành chủ yếu nhờ vấn đề tài chính. Các trung tâm nghiên cứu Mỹ có thừa tiền để thu hút tài năng xuất chúng.

Theo AP (5-10-2006), năm 2004, Mỹ chi 301,5 tỷ USD cho nghiên cứu và phát triển (R&D) – hơn tổng ngân sách R&D của Anh, Pháp, Canada, Đức, Nhật và Ý gộp lại. “Mỹ là nền kinh tế khoa học mạnh nhất thế giới. Họ chi nhiều tiền của cho khoa học hơn bất kỳ quốc gia nào và điều này cuối cùng đã được tưởng thưởng” -  nhận xét của giáo sư lịch sử khoa học Peter Bowler thuộc Đại học Queen’s (Belfast, Bắc Ireland). Đại học Emory (Atlanta, bang Georgia), nơi tài trợ/đầu người gấp ba lần tại Pháp và ngân sách cho thiết bị thoải mái đến mức có thể sắm gần như bất cứ những gì nhà nghiên cứu yêu cầu.

  • Nhưng tiền không phải là tất cả
Áp đảo giải Nobel 2006 nhưng vẫn tụt dốc ảnh 2

Vật lý gia John Mather - đồng giải Nobel lý 2006.

Khoa học và giáo dục Mỹ đã không giấu sự tự mãn với chiến thắng Nobel 2006. Tuy nhiên, trong tất cả bài viết về hiện tượng thắng thế của khoa học Mỹ tại Nobel 2006, dường như không bài viết nào để ý chi tiết rằng trong 6 nhà nghiên cứu Mỹ đoạt bốn Nobel (y học, vật lý, hóa học và kinh tế), người trẻ nhất cũng đã 46 tuổi và người già nhất sinh năm 1921.

Nói cách khác, khoa học Mỹ đang khủng hoảng lớp kế thừa. “Thật tuyệt khi chúng tôi đạt nhiều thành công trong năm nay nhưng tôi thật sự lo ngại cho tương lai” – phát biểu của Judy Sandler, người quản lý tổ chức phi lợi nhuận Trung tâm giáo dục khoa học tại Newton.

Như kết quả loạt nghiên cứu thời gian gần đây, học sinh Mỹ đang hụt vốn kiến thức khoa học cơ bản nghiêm trọng. Theo Reuters (6-10-2006), cuộc khảo sát năm 2002 do Tổ chức khoa học quốc gia Hoa Kỳ thực hiện cho biết 1/2 đối tượng công chúng trong khảo sát không biết electron nhỏ hơn nguyên tử hoặc khủng long và người chưa từng hiện diện cùng nhau trên Trái đất.

“Chúng ta đang chứng kiến nhiều em bỏ lớp khoa học hoặc theo lớp nhưng không bao giờ học bài” – lời kể của giáo sư giáo dục học Richard Duschl thuộc Đại học Rutgers. Học sinh Trung Quốc, Singapore và Úc đang bắt đầu vượt Mỹ ở khoa học cơ bản - nhận định của A. Stephen Dahms, chủ tịch Tổ chức Alfred E. Mann về y sinh tại Valencia (California). Arthur Kornberg (Nobel y 1959) – cha của Roger D. Kornberg (Nobel hóa 2006) – cũng bày tỏ lo ngại tương tự.

Trong 20 năm qua, Mỹ giành duy nhất hoặc đồng nhận 17 giải Nobel y. Về hóa, họ liên tục giật Nobel suốt từ năm 1992. Về vật lý, khoa học gia Mỹ có mặt liên tục 19 năm qua, trừ năm 1999.

Tổng quát, từ 1901, trong 513 cá nhân giành Nobel khoa học, có 232 người là công dân Mỹ (kể cả 7 người mang hai quốc tịch). Từ công nghệ bán dẫn, ADN, vật lý hạt cơ bản, tế bào ung thư, siêu bán dẫn đến bí mật cơ chế kháng thể…, lĩnh vực nào cũng có người Mỹ.  

Nhiều nhà phân tích khác thậm chí cho rằng khoa học Mỹ sẽ đối mặt nguy cơ cạnh tranh trong săn lùng tài năng. Một trong những thể hiện rõ nhất là tỷ lệ bản quyền. Mỹ vẫn chiếm đa số ở tỷ lệ bản quyền nhưng ngày càng bị san sẻ bởi người nước ngoài, đặc biệt châu Á.

Số bản quyền trong ngành công nghiệp Mỹ giảm đáng kể vài thập niên gần đây và Mỹ hiện chỉ chiếm 52%. Sự tụt giảm số công trình công bố cũng là hiện tượng đáng chú ý. Physical Review (gồm nhiều chuyên san khoa học hàng đầu trong lĩnh vực vật lý) mới đây ghi nhận rằng số công trình nghiên cứu khoa học Mỹ trên các chuyên san uy tín đã lép vế hơn so với đồng sự châu Á và châu Âu. Năm 2003, số công trình nghiên cứu Mỹ được công bố chỉ chiếm 29%, so với 61% năm 1983. Martin Blume – biên tập Physical Review­ – cho biết chỉ riêng Trung Quốc đã góp hơn 1.000 bài báo khoa học vào năm 2003.

Sự tụt dốc của khoa học Mỹ đang được giới chính trị nước này quan tâm đặc biệt. Phe Dân chủ liên tiếp chỉ trích chính sách của Chính phủ Bush, gây ảnh hưởng tới ngành khoa học Mỹ – như trình bày của Tom Daschle, thủ lĩnh phe Dân chủ tại Thượng viện, trong diễn đàn chính sách đầu tư khoa học tổ chức ở Hiệp hội cấp tiến khoa học Hoa Kỳ (Washington DC).

Tom Daschle cho rằng, việc cắt ngân sách cho nghiên cứu khoa học của Chính phủ Bush là một trong những nguyên nhân chính khiến khoa học Mỹ bắt đầu lao đao. Tỷ lệ tiến sĩ khoa học mới, sau khi đạt đỉnh cao năm 1998, đã giảm 5% vào năm 1999 và liên tiếp giảm từ đó đến nay. Năm 2000, 38% việc làm tại Mỹ cần trình độ tiến sĩ khoa học đã thuộc về người nước ngoài, tăng 24% so với năm 1990.

Cùng lúc, theo khảo sát của Công ty tư vấn CHI Research, số nhà nghiên cứu Nhật, Đài Loan và Hàn Quốc hiện chiếm hơn 1/4 tất cả bản quyền công nghiệp được cấp tại Mỹ hàng năm và đà này tiếp tục tăng. Từ 1980 đến 2003, Hàn Quốc đi từ zero lên 2% trong tỷ lệ đăng ký bản quyền tại Mỹ; Đài Loan từ 0%-3% và Nhật từ 12%-21%. Trong một hội thảo, Shirley Ann Jackson – chủ tịch Hiệp hội khoa học cấp tiến – cảnh báo rằng giới trẻ Mỹ ngày càng có khuynh hướng ngoảnh mặt với khoa học. “Ai sẽ thay thế lớp già cho tuyến đầu nghiên cứu khoa học Mỹ trong thiên niên kỷ này?” - Shirley Ann Jackson đặt câu hỏi...

Mạnh Kim 

* Giáo dục đại học Mỹ đang tụt dốc

Theo báo cáo Measuring Up 2006: The National Report Card on Higher Education của Trung tâm quốc gia về giáo dục nâng cao và chính sách công cộng công bố ngày 7-9-2006, giáo dục đại học Mỹ đang kém thế. Đây là lần đầu tiên có một báo cáo mang tính so sánh giữa đại học quốc gia Mỹ với 26 nước thuộc Tổ chức phát triển hợp tác kinh tế (OECD).

Dù vẫn đứng đầu về tỷ lệ người ở độ tuổi 35-64 có bằng đại học nhưng Mỹ lại đứng thứ bảy ở nhóm tuổi 25-34. Chi phí đại học ngày càng tăng là một trong những nguyên nhân khiến tỷ lệ vào đại học Mỹ giảm dần. Trung bình, một năm trong bốn năm đại học tốn 31% thu nhập/gia đình. Theo báo cáo trên, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp phổ thông vào đại học tại Hàn Quốc là 48%; Hy Lạp 43%; Phần Lan 37%; Bỉ 37%; Mỹ 35%; Pháp 31%; Đức 23%; Thụy Sĩ 18%...
* Theo BusinessWeek, Mỹ hiện đứng sau 13 nước khác (trong đó có Nhật, Đức và Hàn Quốc) về tỷ lệ sinh viên 24 tuổi có bằng khoa học, tụt từ vị trí hạng ba thế giới cách đây 25 năm. Hậu quả kéo theo: Mỹ đang thiếu lực lượng giáo viên khoa học và không ít giáo viên thật ra cũng không đủ tiêu chuẩn. 28% giáo viên khoa học dạy từ lớp 7 đến lớp 12 hoàn toàn không có bằng khoa học và một số vị có bằng khoa học lại phải dạy lĩnh vực không thuộc chuyên môn. 

Tin cùng chuyên mục