Thời gian gần đây, bệnh viêm não Nhật Bản (VNNB) có chiều hướng gia tăng. Số trẻ em nhập viện tăng cao và đã có ca tử vong. Đây là một bệnh nặng, vì thế việc nhận biết để phòng ngừa và điều trị sớm là điều cần thiết.
|
|
Trẻ em - đối tượng có nguy cơ mắc bệnh viêm não Nhật Bản cao. |
Nhóm siêu vi Arbovirus gồm khoảng 250 chủng loại gây ra nhiều dịch bệnh trên thế giới như sốt xuất huyết Dengue, viêm màng não Eastern equine encephalitis.
Tên viêm não Nhật Bản B (Japanese Encephalitis: JE) được dùng trong suốt thời kỳ dịch xảy ra năm 1924 để phân biệt với bệnh Economo do alpha-virus A gây ra. Nguyên nhân gây bệnh là do virus thuộc nhóm Arbovirus nhóm B (flavi-virus). Bệnh thường xuất hiện theo mùa, nhất là đầu mùa mưa.
Tác nhân truyền bệnh là muỗi Culicinea tritaeniorhyunchus thường có ở nông thôn, chích vào gia súc (nhất là heo) và người. Sau thời gian 14 ngày, muỗi Culex đã có khả năng truyền virus đến một vật chủ mới khác, thông thường là heo. VNNB gây nhiễm ở người nếu như người bị muỗi cái mang virus đốt. Người là ký chủ trong chu trình truyền bệnh.
Trẻ em thường mắc bệnh nhiều hơn người lớn nhưng trong nhiều trường hợp dịch bệnh lan truyền ở quanh khu vực nuôi heo thì người lớn bị nhiễm cũng nhiều như trẻ em. Vùng xảy ra dịch VNNB thường là những vùng có nhiều cây ăn quả như nhãn, vải… và những vùng nuôi heo có nhiều muỗi. Bệnh VNNB không truyền từ người sang người. Việc ăn thịt heo cũng không lây truyền bệnh.
- Thời gian ủ bệnh (từ lúc muỗi cắn đến khi xuất hiện các triệu chứng đầu tiên) trung bình từ 4 – 8 ngày. Đầu tiên, thông thường người bệnh có các triệu chứng giống cảm cúm: sốt nhẹ, sổ mũi, tiêu chảy, run, nhức đầu, nôn mửa… có thể có rối loạn tâm lý. Ở trẻ em, chú ý có hiện tượng trẻ thờ ơ, kém ăn. Trong trường hợp nặng, trẻ có thể bị co giật, sốt 39oC-40oC.
- Sau 2-3 ngày tới 1 tuần, ở bệnh nhân xuất hiện các rối loạn ý thức, sốt cao, rối loạn thần kinh thực vật nặng, diễn tiến ngày càng nặng và có thể tử vong.
Tỷ lệ tử vong của bệnh VNNB dao động từ 7%-33%, tỷ lệ di chứng ngược lại với tỷ lệ tử vong. Với nhóm có tỷ lệ tử vong 33%, các trường hợp để lại di chứng chiếm từ 3%-14%. Với nhóm có tỷ lệ tử vong 7,4% thì di chứng lại lên đến 32%. Các bệnh nhân sống sót sau khi trải qua cơn cấp tính trong trạng thái mất quân bình thần kinh sẽ có không đến 80% hy vọng hồi phục hoàn toàn.
Các di chứng của bệnh thường là liệt dai dẳng, mất điều hòa trương lực, chậm phát triển trí tuệ và rối loạn tính cách. Vì đây là bệnh do virus gây ra nên các hiểu biết về bệnh học còn nhiều hạn chế. Việc điều trị chủ yếu dựa vào điều trị triệu chứng và tiêm phòng.
- Nhóm trung gian truyền bệnh chủ yếu là loại muỗi Culex, có thể truyền từ đời muỗi mẹ sang muỗi con. Loại muỗi này ưa hút máu về đêm từ 6 giờ chiều đến 6 – 8 giờ sáng.
Về phương diện cá nhân, cần chú ý bảo vệ để tránh muỗi đốt, nhất là những người sống trong vùng dịch tễ và vào mùa bệnh đang phát dịch.
- Chủng ngừa: Cho đến nay, việc phòng chống bệnh bằng vắc xin là phương pháp duy nhất đơn giản và hiệu quả (91%-95% các trường hợp). Thuốc chủng ngừa siêu vi VNNB được sử dụng cho người sống trong vùng dịch tễ (đặc biệt là trẻ em) và người từ nơi khác đến trong thời gian trên 30 ngày.
Ở nước ta, vắc xin được tiêm cho trẻ từ 3 đến 15 tuổi. Chích (tiêm) 2 lần cách nhau từ 7 đến 14 ngày, sau đó 1 năm thì tiêm nhắc lại mũi thứ 3. Cứ 3 – 4 năm lại tiêm nhắc lại để tạo miễn dịch. Chú ý, một số trường hợp có thể xảy ra các phản ứng phụ do vắcxin gây ra. Ngoài ra, trẻ em nên tuân thủ lịch tiêm chủng phòng các bệnh thủy đậu, quai bị, sởi và các bệnh khác cũng đóng vai trò tích cực phòng chống biến chứng dẫn đến viêm não.
TRƯƠNG NGỌC THÙY TRANG (Tổng hợp từ tài liệu của BS Nguyễn Quốc Tuấn và BS Trần Ngọc Anh)
|