Sản xuất công nghiệp TPHCM tăng trưởng khá

SGGP
Sở Công thương TPHCM cho biết, trong 10 tháng năm 2018, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố tương đối ổn định. 

Trong đó, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tiếp tục tăng trưởng khá. Lũy kế 10 tháng ước tăng 7,85% (cùng kỳ tăng 7,75%). Nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có mức tăng trưởng cao nhất, ước tăng 8,03% (cùng kỳ tăng 7,81%), bốn ngành công nghiệp trọng yếu khác là ngành hóa chất - cao su - nhựa, ngành sản xuất điện tử, ngành dêt may và da giày có mức tăng thấp hơn, ước đạt 7,77%.
Về thị trường bán lẻ và thương mại dịch vụ, trong tháng 10 cũng ghi nhận sự tăng trưởng vượt bậc, đạt 90.546 tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước và tăng 13,8% so với tháng 10-2017. Lũy kế 10 tháng ước đạt 860.358 tỷ đồng, tăng 12,9% (cùng kỳ tăng 11,59%). Còn với kim ngạch xuất khẩu thì kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp thành phố qua cửa khẩu cả nước ước đạt 31,3 tỷ USD, tăng 7,1% (cùng kỳ năm 2017 tăng 15,7%). Trong đó, nếu tính riêng kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp thành phố qua cửa khẩu thành phố thì ước đạt 27,88 tỷ USD, tăng 3,46% so với cùng kỳ năm 2017 (cùng kỳ tăng 12,56%).

Ông Nguyễn Phương Đông, Phó giám đốc Sở Công thương TPHCM, cho biết với những kết quả đạt được cho thấy, tình hình thị trường trong nước đang trên đà tăng trưởng tốt so với cùng kỳ năm trước. Mặt khác, những nỗ lực tháo gỡ khó khăn khơi thông nguồn vốn, rà soát, hỗ trợ mặt bằng và các chương trình hỗ trợ thiết thực khác như cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, môi trường đầu tư... của thành phố cho doanh nghiệp đã phát huy hiệu quả nhất định.

Trong thời gian tới, sở tiếp tục tham mưu UBND TPHCM tập trung triển khai chính sách hỗ trợ phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực và công nghiệp hỗ trợ. Theo đó, tập trung 5 nhóm chính sách hỗ trợ như mặt bằng; cơ chế vốn; khoa học - công nghệ; đào tạo nhân lực; xúc tiến thương mại và phát triển thương hiệu. Riêng với doanh nghiệp sản xuất trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ sẽ được xem xét để được hưởng chính sách hỗ trợ lãi vay để đầu tư nhà xưởng và đầu tư công nghệ sản xuất mới với thời gian hỗ trợ là 7 năm, mức vốn vay tối đa cho 1 dự án là 200 tỷ đồng.

Ngoài ra, thời điểm 2 tháng còn lại cũng là cao điểm chuẩn bị nguồn cung hàng hóa phục vụ Tết Nguyên đán. Do vậy, Sở Công thương phối hợp các địa phương có nguồn cung lượng hàng lớn như Đồng Nai, Bình Dương, Lâm Đồng, Bến Tre, Đồng Tháp, An Giang... nắm bắt tình hình hoạt động nuôi trồng, sản xuất hàng hóa phục vụ tết. Song song đó, làm việc với các doanh nghiệp nhằm đảm bảo các doanh nghiệp tham gia Chương trình Bình ổn thị trường sẽ chiếm 30% - 40% thị phần cung ứng hàng hóa trong dịp tết trên. 

 

ÁI VÂN

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Doanh thu dệt may cao nhưng lợi nhuận thấp

Doanh thu dệt may cao nhưng lợi nhuận thấp

Đây là thông tin được TS Trần Văn Ái, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, chia sẻ tại hội thảo “Nghiên cứu chiến lược cạnh tranh hiệu quả cho các công ty dệt may Việt Nam”. 

Hợp tác kinh tế và đầu tư

Nhiều quy định thắt chặt thị trường bất động sản

Đầu năm 2019, một loạt quy định mới được ban hành như giảm hạn mức vay trung hạn, tăng hệ số rủi ro từ bất động sản… nên nguồn cung vốn cho bất động sản sẽ được kiểm soát chặt chẽ hơn.

 

Chương trình bình ổn thị trường

Sản phẩm tân dược bình ổn chiếm 50% thị phần

Sau 6 năm triển khai Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”, tỷ lệ người dân sử dụng tân dược sản xuất trong nước tăng rõ rệt. Riêng tại TPHCM, cùng với việc thực hiện cuộc vận động, Sở Y tế còn phát động chương trình “Thuốc Việt cho người Việt”, đồng thời triển khai Chương trình bình ổn thị trường (CTBOTT) các mặt hàng dược phẩm thiết yếu nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu khám chữa bệnh của người dân. Nhờ vậy, tỷ lệ thuốc nội đã tăng lên rất cao. 

Thích ứng với biến đổi khí hậu

Nâng cao tỷ lệ phát triển năng lượng tái tạo

Trong chiến lược phát triển năng lượng tái tạo (NLTT) ở Việt Nam, Chính phủ đã đặt ra các chỉ tiêu cụ thể như tăng tỷ lệ NLTT trong tổng tiêu thụ năng lượng sơ cấp lên 32,3% vào năm 2030 và khoảng 44% vào năm 2050; tỷ lệ điện năng sản xuất từ NLTT tăng 32% vào năm 2030 và lên 42% vào năm 2050.