Thân thế ông Trần Trinh Trạch

Hỏi: Xin cho biết: Sự nghiệp và thân thế đại gia Trần Trinh Trạch.
TRẦN HỮU CHÁNH (95C Huỳnh Thúc Kháng, Ninh Kiều, Cần Thơ)

NGHÊ DŨ LAN: Một trong vài đại điền chủ giàu nhất Nam Kỳ thuộc Pháp (Cochinchine française) là ông Trần Trinh Trạch (sinh năm 1872), người ấp Cái Dầy, xã Châu Hưng, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.

Nhà lớn của Trần Trinh Trạch ngày nay.

Có tài liệu nói ông gốc người Minh Hương, từ Trung Quốc chạy sang cù lao Phố (Biên Hòa, Đồng Nai) rồi phiêu dạt về ấp Cái Dầy, làm mướn cho một điền chủ nhập tịch Pháp.

Theo lệ thực dân thời ấy, lẽ ra con của gia đình đó phải học tiếng Pháp, nhưng họ lại nhờ ông Trạch đi học thế, nhờ vậy ông có chữ nghĩa để sau này làm công chức.

Phần lớn tài liệu nói ông Trạch xuất thân là thư ký làng nhưng thường được gọi Hội đồng Trạch vì sau khi giàu có ông là thành viên Hội đồng Tư mật Nam Kỳ (Conseil privé).

Trong lúc làm thư ký điền địa ở tòa bố (tòa hành chánh) tỉnh Bạc Liêu, ông cưới cô Phan Thị Muồi là con gái thứ tư của bá hộ Bì (Phan Hộ Biết), người có đất ruộng nhiều nhất tỉnh Bạc Liêu, nổi danh là vua lúa gạo Nam Kỳ.

Bá hộ Bì chia cho con gái và rể một sở đất để ra riêng. Thầy ký Trạch xin thôi làm công chức để làm chủ điền. Có chữ nghĩa, biết luật lệ và thủ tục hành chánh, lại được cha vợ cho đất, giúp vốn nên ông Trạch mau phất lên, mua thêm nhiều đất điền.

Ngoài ra, đất ruộng bá hộ Bì tách bộ (địa bạ) chia cho các con đều lần lượt lọt vào tay chàng rể thứ tư vì các con và rể khác của ông Bì mê cờ bạc, lần lượt đem cầm cố cho ông Trạch, không chuộc được, đành mất luôn. Có lời truyền rằng, ông Trạch mau giàu lớn nhờ tài đánh bạc, thường tổ chức bài bạc trong nhà, cho con bạc vay tiền rồi về sau làm chủ luôn tài sản của các con bạc thiếu nợ.

Ông Trạch có bảy người con (ba trai, bốn gái): Hai Đinh, Ba Quy (sau này cậu ba, tức công tử Bạc Liêu, cải tên thành Huy), Tư Huệ, Năm Thu, Sáu Đông, Bảy Dầy, Tám Bò. Ba người con trai ông Trạch sẵn gia sản kếch sù của cha, đều mặc sức phung phá tiền. Trái lại, ông Trạch sống cần kiệm, chí thú làm giàu và chung thủy với vợ, không phải là hạng người bướm ong, trăng gió.

Ngoài hai dãy phố lầu ở Bạc Liêu và một dãy phố lầu ở đường La Grandière ở Sài Gòn (sau là đường Gia Long, nay là Lý Tự Trọng), ông Trạch có gần 100.000ha ruộng muối.

Tương truyền, bấy giờ toàn tỉnh Bạc Liêu (gồm bốn quận Vĩnh Lợi, Cà Mau, Vĩnh Châu, Giá Rai) có 13 lô ruộng muối thì 11 lô là tài sản ông Trạch. Ông Trạch còn làm chủ 74 sở điền, 110.000ha đất trồng lúa, thu dụng khoảng 90 từng khạo để thay mặt ông đi thu tô tức. Do đất đai mênh mông, không bị chia khoảnh vụn vặt nên công tử Bạc Liêu (con thứ ba của ông Trạch) có thể dùng ca-nô đi thăm ruộng.

Ông Trạch thuê người Pháp thiết kế và xây dựng nhà riêng, nhiều vật liệu chở về từ Pháp (1919). Tầng trệt gồm hai phòng ngủ, hai đại sảnh và lối cầu thang lên lầu. Tầng lầu gồm ba phòng ngủ, hai đại sảnh, phòng ở hướng Đông Bắc là của ông Trạch; đối diện là phòng của công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy.

Dân Bạc Liêu ngày xưa gọi đây là “Nhà lớn”. Công ty Du lịch Bạc Liêu tu sửa nhà, đưa vào kinh doanh, dùng làm khách sạn (từ 2003), nay ở số 13, Điện Biên Phủ, phường 3, thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

Ngân hàng đầu tiên do chính người Việt Nam sáng lập và điều hành, trụ sở đặt tại Sài Gòn (1927), tên là Ngân hàng Việt Nam (công ty trách nhiệm hữu hạn). Ông Trần Trinh Trạch làm chánh hội trưởng (Ông Huỳnh Đình Khiêm, nghiệp chủ ở Gò Công, làm hội trưởng danh dự. Ông Nguyễn Tân Văn, nghị viên Hội đồng Thành phố làm phó hội trưởng. Ông Nguyễn Văn Của, chủ nhà in, làm quản lý.)

Ông Trạch mất tại Sài Gòn (1942) vì bệnh suyễn, lễ tang được xem như lớn nhất Nam Kỳ lục tỉnh bấy giờ. Gia tộc Trần Trinh không chấp điếu, tá điền đến viếng và để tang được cho một cắc (tương đương một giạ lúa).

Lúc đó sông Bạc Liêu còn nhỏ nên cái sân trước mặt nhà lớn của ông to lắm, và rạp được che từ mặt tiền nhà đến giáp bờ sông. Đám tang kéo dài bảy ngày, bảy đêm. Bất kỳ ai đến cũng được đãi ăn tử tế. Khi đưa tang, đoàn người kéo thành một hàng dài hơn cây số…

Các tin, bài viết khác