Dù còn nhiều ý kiến khác nhau nhưng dấu hiệu nền kinh tế nước ta đang “tươi tắn” lại là khá rõ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 4 tháng đầu năm 2009 đạt 360,4 ngàn tỷ đồng, tăng 21,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Sắc diện của nền kinh tế nước ta sẽ còn “hồng hào” hơn khi chương trình kích cầu tiếp tục được triển khai mạnh mẽ với tổng nguồn vốn khoảng 9 tỷ USD. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực bước đầu cùng sự hoan nghênh của xã hội và các tổ chức quốc tế, quá trình kích cầu vẫn đang gây không ít lo ngại trong dư luận khi dấu hiệu chuyển biến về cơ cấu kinh tế còn mờ nhạt, giá cả hàng hóa chưa giảm xuống, năng suất sản xuất chưa tăng lên...
Tất nhiên, việc sử dụng nguồn vốn chiếm khoảng 10% GDP trên là vấn đề không đơn giản. Các chuyên gia kinh tế cho rằng, đang có sự bất hợp lý giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ được vận dụng trong chương trình kích cầu. Chính sách bù lãi suất mang tính bình quân không tạo cơ hội để tái cấu trúc nền kinh tế, sàng lọc những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả và cũng không có nhiều tác dụng cho mục tiêu kích cầu đầu tư và tiêu dùng.
Đáng lo hơn, hiện đang có xu hướng rời xa mục tiêu cần hướng đến của kích cầu là cơ cấu lại nền kinh tế mà có dấu hiệu đầu tư tràn lan, phần lớn vốn kích cầu chạy đến với các doanh nghiệp nhà nước và đáo nợ ngân hàng. Do vậy, ngoài việc nên rót vốn kích cầu để thực hiện những biện pháp đảm bảo công bằng, nhanh chóng, hiệu quả như giảm giá xăng dầu, điện nước, giảm thuế VAT… thì chúng ta phải tính đến chuyện “hậu suy thoái” sẽ như thế nào.
Tiền kích cầu không thể được sử dụng như một liều thuốc giảm đau đơn thuần mà còn phải là liều thuốc bồi bổ, vừa giúp hồi phục vừa nâng cao được “thể lực” và “sức sống” cho nền kinh tế. Đương nhiên, sau cơn “bạo bệnh” này thì các nền kinh tế sẽ phải nhìn lại mình và thay đổi “lối sống”. Những mô thức phát triển lâu nay sẽ được thay đổi nhưng dù phát triển với mô hình nào thì những yếu tố cốt lõi tạo nên sức cạnh tranh và sự khác biệt cho các nền kinh tế vẫn là nhân lực, cơ sở hạ tầng và môi trường sản xuất kinh doanh.
Không cần nói nhiều thì ai cũng biết là hệ thống đường giao thông, cảng biển, dịch vụ vận tải, kho bãi… của nước ta yếu kém như thế nào. Hệ lụy không mong muốn lâu nay mà chúng ta gánh phải là khó thu hút được đầu tư cũng như làm chậm trễ đáng kể tốc độ giải ngân dòng vốn đầu tư, nhất là vốn FDI.
Còn để tạo niềm tin cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp thì không có gì bằng chuyện cải thiện môi trường kinh doanh. Không những hoàn thiện khung pháp lý cho phù hợp cam kết hội nhập và các chuẩn mực kinh tế thị trường, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp làm ăn mà chúng ta cũng phải xây dựng được những chính sách “dẫn dắt” dòng vốn đầu tư chảy vào những lĩnh vực vừa phát huy được tiềm năng của đất nước vừa đảm bảo phát triển bền vững và tạo lập được hình ảnh đẹp cho VN trên trường quốc tế, đồng thời nắm bắt được những xu hướng phát triển kinh tế mới.
Giai đoạn này chúng ta cần tập trung tháo gỡ những nút thắt, vá lại những lỗ hổng, chờ “trời yên biển lặng” để “ra khơi”. Thực tế, nhiều nước đang tranh thủ thời kỳ trầm lắng để bơm tiền “nâng cấp” những cơ sở căn bản của nền kinh tế, có như vậy thì “hậu giông tố” nền kinh tế có thể tiến được những bước dài, nhanh và vững chắc hơn.
THÁI HOÀNG LIÊM