|
Nhà máy chế biến cao su của Công ty Cao su Chư Pảh (tỉnh Gia Lai) được xây dựng năm 1990 là nơi chuyên chế biến cao su cốm có công suất thiết kế 3.000 tấn/năm. Hiện nay, hệ thống xử lý nước thải (XLNT) của nhà máy gồm 1 bẫy cao su trong nhà máy và 1 hồ chứa tự đào với thể tích là 1.872m3. Nước thải trong quá trình sản xuất được dẫn vào hồ chứa thông qua hệ thống mương. Sau đó dùng bơm chuyển tưới vườn bạch đàn và các vườn cà phê quanh hồ. Với cách xử lý tạm thời này, rõ ràng nhà máy không đáp ứng đúng các quy định của pháp luật về xử lý nước thải và bảo vệ môi trường.
|
|
Dây chuyền chế biến mủ ly tâm - công đoạn gây ô nhiễm khá lớn trong quy trình chế biến cao su.
|
Thật ra, trước đây, công ty có lập báo cáo đánh giá tác động môi trường của nhà máy chế biến để tiến hành đầu tư hệ thống XLNT, nhưng vào thời điểm đó, sản lượng mủ cao su quá ít, giá bán cao su thấp nên việc đầu tư xây dựng hệ thống XLNT cho nhà máy không được thực hiện. Sau này, huyện Chư Pảh được thành lập, khu thị tứ của huyện lỵ Chư Pảh hình thành, các khu dân cư phát triển nhanh và nằm sát với nhà máy, việc ô nhiễm môi trường mới thật sự trở thành “vấn đề”.
Ông Lê Đức Tánh, Giám đốc Công ty Cao su Chư Pảh, cho biết: “Hiện nay, việc xây dựng hệ thống XLNT cho nhà máy chế biến phải được tiến hành ngay và phải tính toán sao cho phù hợp với điều kiện của nhà máy đồng thời phải đáp ứng được yêu cầu của môi trường”. Tuy nhiên, nếu chỉ một mình làm việc đó, công ty không “kham” nổi, vì thế vừa qua Công ty Cao su Chư Pảh đã kiến nghị Tổng Công ty Cao su VN tư vấn giúp mình một công nghệ XLNT sao cho vừa đảm bảo yêu cầu về môi trường vừa hợp với điều kiện của nhà máy.
Khá hơn nhà máy chế biến của Công ty Cao su Chư Pảh, Nhà máy Sơ chế cao su Xuân Lập của Công ty Cao su Đồng Nai khởi công xây dựng trạm xử lý nước thải vào năm 2004 theo thiết kế của Công ty Glotex Singapore. Trạm này gồm 1 bể trộn, 2 bể cân bằng, 1 mương oxy hóa… có công suất thiết kế 11.000 tấn/năm.
Theo ông Nguyễn Văn Hiệp, Giám đốc nhà máy, thì hệ thống XLNT của trạm được đưa vào hoạt động từ tháng 10-2004 và đến tháng 2-2005, sau 5 tháng hoạt động, kết quả thử mẫu cho thấy đa phần chỉ đạt chỉ tiêu B, riêng chỉ tiêu NH3 vẫn chưa đạt. Và cũng như Công ty Cao su Chư Pảh, Công ty Cao su Đồng Nai cũng lại kiến nghị với Tổng Công ty Cao su hỗ trợ công nghệ để giúp công ty giảm thiểu ô nhiễm tại nhà máy sản xuất. Cần lưu ý rằng Công ty Cao su Đồng Nai là 1 trong 8 công ty nằm trong quyết định 64/2003/QĐ-TTg, nghĩa là nếu không giải quyết tốt việc XLNT, các nhà máy của công ty sẽ bị đóng cửa vào năm 2007.
|
Theo Viện Nghiên cứu cao su Việt Nam, tình trạng quá tải đang xảy ra với hệ thống xử lý nước thải hiện hành của một số doanh nghiệp chế biến cao su. Việc quá tải này xảy ra ngay cả ở thời điểm các nhà máy chế biến chỉ hoạt động có một nửa công suất thiết kế. Do vậy, khả năng quá tải sẽ còn rất lớn vào thời điểm cuối năm, khi các nhà máy hoạt động hết công suất. Điều đó đồng nghĩa với việc mức độ gây ô nhiễm sẽ gia tăng. Đó là chưa nói đến việc hầu hết các hệ thống XLNT của các nhà máy chế biến chỉ được vận hành khi có kiểm tra (!?); một số hệ thống XLNT khác vận hành chưa đúng kỹ thuật. |
Theo Ban quản lý kỹ thuật Tổng Công ty Cao su Việt Nam, hiện Tổng Công ty Cao su Việt Nam có 36 nhà máy chế biến cao su, trong đó có 26 nhà máy đã được trang bị hệ thống xử lý nước thải với tổng kinh phí đầu tư ước tính trên 80 tỷ đồng. Tuy nhiên, qua đánh giá của các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, hầu hết các hệ thống XLNT đều hoạt động kém hiệu quả, nước thải sau xử lý không đạt tiêu chuẩn thải ra môi trường theo các quy định của nhà nước, gây ô nhiễm nghiêm trọng.
Đáng nói hơn, trong Tổng Công ty Cao su còn có 10 công ty với 13 nhà máy chế biến nằm trong danh sách những đơn vị gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng phải xử lý triệt để từ nay đến năm 2007 (theo quyết định 64/2003/QĐ-TTg về “Kế họach xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng” của Thủ tướng Chính phủ).
Theo ông Trần Ngọc Thành, Chủ tịch HĐQT Tổng Công ty Cao su VN, các đơn vị thuộc tổng công ty đúng là còn gặp nhiều khó khăn về tài chính, về công nghệ xử lý nước thải chế biến cao su nên việc xử lý nước thải không hiệu quả hoặc hiệu quả thấp. Bên cạnh đó cũng còn nhiều đơn vị chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề này. Ông cũng khẳng định thời gian tới tổng công ty sẽ cương quyết yêu cầu các đơn vị trực thuộc phải thực hiện việc XLNT triệt để hơn nữa.
Trước thực trạng trên, theo Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Bích Quyền (Viện Nghiên cứu cao su), tổng công ty cần nghiên cứu cải tạo lại các công nghệ đã áp dụng tại các nhà máy cho phù hợp với điều kiện XLNT tại Việt Nam, đưa công nghệ xử lý mùi hôi nước thải chế biến cao su vào vận hành thử để hoàn chỉnh công nghệ. Trong thiết kế thi công, khi đầu tư cần xem xét hiệu quả và khả năng đáp ứng công nghệ, cần thiết kế hệ thống XLNT theo công suất định hình của nhà máy, đồng thời chú trọng đến quá trình chuyển giao công nghệ kỹ thuật và vận hành hoàn chỉnh hệ thống trước khi bàn giao.
BÁ TÂN
|