Cùng với sự phát triển và xu hướng toàn cầu hóa đang ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân. Vấn đề thanh toán không dùng tiền mặt, sử dụng các dịch vụ thanh toán bằng thẻ một lần nữa trở nên cấp thiết.
Tiềm năng chưa khai thác
Hiện tại, Việt Nam là quốc gia sử dụng công cụ thanh toán bằng tiền mặt chiếm tỷ lệ trên 90%. Tuy nhiên, người Việt Nam lại có thái độ tích cực trong việc chấp nhận sử dụng các loại thẻ thanh toán.
Theo kết quả nghiên cứu về “Thói quen và quan niệm của người Việt Nam về việc vay tín dụng, sử dụng thẻ tín dụng” vào đầu năm 2007 của Tập đoàn cung cấp dịch vụ thanh toán bằng thẻ hàng đầu thế giới là Visa International và công ty nghiên cứu thị trường ACNeilson cho thấy, khoảng 1,2 triệu người Việt Nam có đủ điều kiện được cấp thẻ; khoảng 10,5 triệu người Việt Nam có đủ điều kiện mở tài khoản ngân hàng và được cấp thẻ ghi nợ (debit card); bình quân mỗi người Việt Nam dành 69% thu nhập của mình cho gia đình.
Những người được nghiên cứu cho rằng tiết kiệm và lên kế hoạch thu chi cho tương lai là những yếu tố chính để bảo đảm an toàn tài chính. Cũng theo kết quả nghiên cứu này, các gia đình Việt Nam thường sử dụng tiền tiết kiệm khi mua các tài sản có giá trị lớn.
Tuy nhiên, mọi người cũng đang bắt đầu làm quen với khái niệm vay tiền ngân hàng. Có thể nói tiềm năng của các dịch vụ ngân hàng nói chung và của thị trường thẻ nói riêng tại Việt Nam là rất lớn.
Việt Nam hiện có tổng số lượng thẻ tín dụng và thanh toán khoảng 3,5 triệu thẻ, số lượng máy ATM khoảng 2.600 máy và 22.000 điểm chấp nhận thanh toán quốc tế. Một thực tế phải thừa nhận là hiện nay dịch vụ thẻ của các ngân hàng Việt Nam chưa được tiến hành một cách đồng bộ và còn thiếu tính kết nối.
Vẫn còn tình trạng các điểm mua sắm có nhiều máy ATM nhưng là của nhiều ngân hàng khác nhau, sử dụng thẻ của ngân hàng phát hành này muốn rút tiền ở máy ATM của một ngân hàng khác sẽ bị tính phí. Quan trọng hơn, nếu không phải là thẻ Visa thì ngay cả việc sử dụng thẻ của ngân hàng này đi rút tiền ở máy ATM ngân hàng khác cũng không được thực hiện.
Những nỗ lực liên kết giữa các ngân hàng cho một một thị trường thẻ đồng nhất vẫn chưa được phát huy tác dụng, mới chỉ có một số ít các ngân hàng có cơ hội hợp tác với nhau. Ở đây vai trò làm đầu mối cho một thị trường thẻ của hiệp hội ngân hàng chưa thực sự phát huy tác dụng. Chính vì thế, hầu hết mỗi ngân hàng đều phải nỗ lực riêng vì khách hàng của mình.
Chính sách của tương lai
Có thể nói, việc mở rộng thị phần và chuyên nghiệp hóa trong hoạt động ngân hàng có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của nền kinh tế và cả xã hội. Mỗi khi nền kinh tế chuyển từ nền “kinh tế tiền mặt” sang nền “kinh tế ngân hàng và chuyển khoản”, khi tất cả doanh nghiệp đều sử dụng dịch vụ ngân hàng làm phương tiện thanh toán, khi có trên 80% dân số sử dụng tài khoản ngân hàng để nhận tiền lương hay mua sắm,… thì nền kinh tế Việt Nam mới có thể gọi là một nền kinh tế công nghiệp hay công nghiệp phát triển.
Cũng chỉ khi đó, Chính phủ mới có thể kiểm soát được nền kinh tế, tránh khỏi những vấn nạn mà hiện nay chúng ta đang đối đầu như hối lộ, rửa tiền, tham nhũng, trốn thuế, ẩn lậu thuế, …
Hướng tới một nền kinh tế phi tiền mặt, bên cạnh những nỗ lực của các nhà cung cấp dịch vụ tài chính, Chính phủ cần tạo ra những cơ chế mà tự nó sẽ có tác dụng hỗ trợ ngành ngân hàng rất lớn như việc ban hành các quy định doanh nghiệp và cá nhân giao dịch qua ngân hàng.
Mặt khác, chính sách ưu đãi trong việc quản lý thuế cho các doanh nghiệp có tỷ lệ giao dịch qua ngân hàng cao, không chấp nhận những khoản chi phí hay những giao dịch lớn không thông qua ngân hàng. Chắc chắn lúc đó, không chỉ ngành ngân hàng trong nước phát triển mà cả nền kinh tế Việt Nam cũng trở thành một nền kinh tế công nghiệp đúng như các nhà chính sách đã hoạch định.
TUYẾT VÂN