Hai mươi năm về trước, tôi còn là một cô gái trẻ. Vì trẻ, tôi có nhiều hoài bão, khát vọng, cả liều lĩnh và bạt mạng. Tôi cũng yêu, yêu say mê, điên cuồng, bất chấp. Tôi bỏ ngoài tai những lời khuyên, chẳng bận tâm đến những ánh mắt ái ngại. Tôi chỉ tin tôi và những tình cảm của mình.
Hai mươi năm trước, nhà văn Anh Đức đã từng có cái nhìn ái ngại, rầu rĩ, muốn chia sẻ với tôi lời khuyên “xin đừng tự đốt cháy mình” như thế. Trong đáy lòng tôi, ông nhà văn Anh Đức này là một ông già không chịu chơi, khốt-ta-bít, tẻ nhạt; một ông già không ưa gì những người trẻ sáng tạo, mới mẻ, dám đốt cháy mình, cần phải “kính nhi viễn chi”. Tôi ngần ngại gặp ông. Trong những cuộc hội thảo văn học, những cuộc gặp gỡ văn nghệ sĩ tôi mặc cảm “ông già không ưa mình” nên chủ động tránh né ông…
Vợ chồng nhà văn Anh Đức trong rừng miền đông năm 1971 cùng con trai Bùi Đức Huy. Ảnh: Hồng Sến
Nhưng tôi không ngờ càng “ghét ông”, kiêng dè, cố tránh xa ông bao nhiêu thì tôi càng chịu ảnh hưởng ông rất lớn trong sự nghiệp viết lách của mình. Làm sao tôi không đọc và trái tim không rung cảm trước thân phận, lòng kiên định thủy chung, sự dũng cảm của những người phụ nữ Nam bộ cầm súng. Làm sao tôi không cùng rơi nước mắt với chị Hậu trong “Một chuyện chép ở bệnh viện”, khi mới sinh 6 ngày đã ôm đứa con bé bỏng trốn dưới hầm.
Trên nắp hầm, những gót giày đinh của địch giẫm nát ngôi nhà thân yêu. Là phụ nữ, làm sao tôi không đứng tim, đồng cảm với tình huống ngặt nghèo của chị Tư Hậu: “Bỗng nhiên một tiếng nổ “ầm” làm rung chuyển mặt đất. Tôi đang đứng, bị ngã dúi vào vách hầm. Con tôi khóc oe oe. Tôi hốt hoảng ghì sát con vào lòng. Một tiếng nổ nữa tiếp theo như bưng cả người tôi lên.
Tôi tối tăm cả mày mặt. Con tôi lại khóc. Làm sao trách nó được. Hai quả lựu đạn nổ ra đã làm cát sụp đổ, từ trên nóc hầm tuôn xuống rào rào. Tôi kéo khăn che mặt cho con, cho cát không lọt vào mắt nó…”. Là một người mẹ, làm sao chúng ta không cùng hòa với chị Tư Hậu dòng nước mắt khi địch rút đi, trong cảnh nhà cửa tan hoang, ôm trên tay đứa con còn đỏ hỏn, đôi chân yếu ớt, run rẩy; chị loạng choạng chạy ra ngoài bãi biển tìm cha chồng và đứa con gái bé bỏng. Những người làm mẹ hôm nay thử tưởng tượng xem, đêm ấy, một người mẹ mới sinh, vừa lo cho người cha chồng hấp hối vì bị địch đâm vào hông, vào mắt; vừa lo cho đứa con gái nhỏ mới lên ba vì sợ mà cứ khóc thút thít, bám theo mẹ. Chị đánh con mà nước mắt chảy tràn vì hối hận, rồi lại dỗ con nín, đôi chân rã rời mà bàn tay vẫn dịu dàng rót từng miếng nước nhỏ cho cha chồng thấm giọng trong cơn khát dữ dội…
Vẻ đẹp của những người phụ nữ Nam bộ dần hiện lên, đẹp rực rỡ qua từng trang sách của ông, cả những con người ngỡ như thật thầm lặng, bé nhỏ như chị Ba Tuất - người đàn bà nông dân đã sẵn lòng nuôi hai con chị Tư Hậu cho chị thoát ly công tác, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ hai đứa bé. Ở miền Nam, có biết bao người mẹ, người chị thầm lặng như thím Ba Tuất sẵn sàng chấp nhận hy sinh, tù đày để bảo vệ cách mạng, bảo vệ Đảng. Tôi biết khi viết những dòng có sức lay động mãnh liệt này về những người mẹ, người chị miền Nam, lúc ấy, trong ông tràn lên nỗi xúc động, lòng biết ơn sâu thẳm.
Làm sao trái tim tôi không rung lên niềm căm hận khi chị Sứ xinh đẹp, kiên trung bị kẻ địch dùng dao chém nhưng vì tóc chị quá dày, mà lưỡi dao tàn bạo còn tiếp tục hành hạ, làm chị đau đớn, cho đến nhát thứ tư mà chị vẫn chưa chết, chúng lại treo chị lên thân dừa theo ý đồ tên thiếu tá đồ tể “để nó ngắc ngoải như vậy, hay hơn. Để nó rên cho thấu tới tai tụi trong hang”. Tình yêu, lòng ngưỡng mộ chất anh hùng, tài năng của nhà văn Anh Đức đã khiến những âm thanh cuối cùng của chị Sứ không chỉ đồng vọng với đồng bào, đồng chí, những người thân của chị ở Hòn Đất năm ấy mà có sức lay chuyển đến những thế hệ mai sau và mãi mãi…
Con người có vẻ bề ngoài ngỡ như khô khan của nhà văn Anh Đức lại gửi vào những trang văn sự lãng mạn, đa cảm đôi khi quá sức mềm yếu. Tôi chạm vào chất nhân hậu của ông ở những nhân vật, ở những tình huống thật đau lòng. Tôi làm sao quên được cô Cà Mỵ trong Hòn Đất dù “đất” ông dành cho cô rất khiêm nhường. Nhưng âm thanh những tàu lá dừa khô cọ nhau kêu rắc rắc làm xốn xang tim người khi cô chấp nhận cho bọn lính thay nhau cưỡng hiếp để được “đem gạo vô hang cho mấy chú” đã làm ngời lên vẻ đẹp trong sáng, sâu thẳm, giàu lòng hy sinh của cô gái Khmer chất phác, dù anh cô - thằng Xăm là một tên ác ôn mất tính người.
Với sự chăm chút, cẩn trọng từng chi tiết, có lẽ ngay chính cả ông cũng không ngờ, chính những nhân vật phụ trong tiểu thuyết lại là nhân vật gây ấn tượng một cách mãnh liệt. Nếu chị Sứ trở thành bất tử trong Hòn Đất thì bà Cà Xợi là một bà mẹ bi thương nhất đọng lại trong lòng người. Có người mẹ nào lại không yêu thương con nhưng chính tay bà đã phải vung lên lưỡi dao oan nghiệt với tất cả nỗi giằng xé. Nhưng bà Cà Xợi không nỡ tự tay giết con mình dù tội lỗi của thằng Xăm chất cao như núi. Nhưng cũng có thể chính lòng nhân hậu, mềm yếu đã khiến ông không để cho chính tay bà Cà Xợi vung chiếc dao dâu giết con…
Tôi đọc một mạch tuyển tập của nhà văn Anh Đức. Chân dung những con người Nam bộ dần hiện lên, đậm tính cách, rực rỡ. Ngòi bút của ông khiến họ đẹp dần bởi lòng nhân ái, bao dung, phóng khoáng, vị tha. Và cũng thật rực rỡ những tấm lòng yêu quê hương đất nước một cách máu thịt, sâu thẳm. Hơn nửa đời người, tôi mới có dịp tĩnh tâm đọc lại tuyển tập của nhà văn Anh Đức. Đọc xong rồi, tôi thấy mình lớn lên biết bao nhiêu, vỡ òa ra nhiều thứ. Hóa ra, những người tuổi trẻ chúng tôi ngỡ như yêu hết mình, đốt cháy hết mình cho những trang văn thì cũng có nghĩa là chúng tôi đã phung phí biết bao sức lực. Chúng tôi đã nôn nóng đãi cát, nhưng mấy ai đã cầm nắm được những hạt vàng. Còn nhà văn Anh Đức, dù thời ấy còn rất trẻ đã biết nhẫn nha, chắt chiu, mài giũa từng chi tiết để tác phẩm của ông lấp lánh chất ngọc.
Một nhà văn nhận giải thưởng Hồ Chí Minh như ông lại cặm cụi ngồi đọc quyển sách vừa mới in còn lạo xạo chất sạn của người trẻ. Tôi không ngờ ông đã đọc quyển sách của mình một cách cẩn trọng. Ông cũng viết bài cảm nhận tác phẩm của người trẻ một cách cẩn trọng. Cho đến lúc đó, tôi mới ngỡ ngàng nhận ra, hình như ông không ghét tôi như tôi từng mặc cảm. Ông đã âm thầm theo dõi những bước chân của người trẻ. Có lẽ ông dành cho tôi những dòng chia sẻ, những ưu ái, bao dung khi đọc tập truyện ký “Mẹ” vì tôi đã viết về những người mẹ, người chị Nam bộ mà ông đã từng viết, viết chưa hết, vẫn còn mắc nợ.
Ông đánh dấu những chi tiết mà ông tâm đắc, dù đó là tấm bằng Tổ quốc ghi công bị treo ngược vì con gái một Bà mẹ Việt Nam anh hùng không biết chữ… Ông vẫn còn rất tỉnh táo khi tôi đến thăm. Di chứng tim mạch không cho phép ông viết nhưng ông vẫn đọc, đọc đều đặn, trái tim vẫn nóng hổi khát vọng mà phải “ém mình” thúc thủ trước tuổi tác, bệnh tật. Ông nhìn những bước chân hăm hở của người trẻ bằng đôi mắt u buồn. Tình cờ ngoái nhìn lại, tôi chợt sững người nhìn thấy đôi mắt u buồn ấy của ông.
Giây phút ấy tôi cũng hiểu ra rằng dù đã từng “ghét” ông, đã từng kiêng dè, thậm chí cười mỉm trước lời khuyên của ông; vậy mà tự lúc nào, tôi đã trở thành học trò của ông, khi định mệnh sắp đặt cho tôi tiếp cận với muôn vàn số phận anh hùng, nghiệt ngã của những người mẹ, người chị trong chiến tranh, đầy ắp tâm tư trong những ngày hòa bình. Tôi biết chắc mình trả nợ quá khứ kém hiệu quả hơn ông rất nhiều và ông không hề biết đã từng có một đứa học trò liều lĩnh, vô tư, bạt mạng như tôi ở trên đời.
Trên con đường thiên lý, tôi hiểu mình còn phải tiếp tục đi, gặp gỡ với những người mẹ, người chị Nam bộ, phát hiện ra vẻ đẹp và nỗi đau của họ, những phẩm chất cao quý của họ được giấu kín qua vẻ ngoài bình dị, thô ráp. Từ biệt ông, nhìn lại, tôi đọc được thông điệp trong đôi mắt buồn rầu của nhà văn dõi theo những người đang rất khỏe mạnh lời khuyên: “Những người không còn trẻ nữa, hãy biết giữ sức mình”.
Trầm Hương