Hồi học lớp sáu tôi đã thấy bụi xương rồng mọc phía bờ rào. Đám ma bà ngoại, viên pháo trống nổ toác trời vẫn còn ám ảnh tôi cho đến bây giờ. Người ta bảo: “Đốt pháo để hồn ma theo xác xuống âm phủ”. Chẳng biết thật giả thế nào, mỗi lần có đám ma làng tôi lại đốt pháo, duy nhất một viên pháo trống.
Bụi xương rồng gai góc nằm xen lẫn với hàng chè tàu. Có lẽ vì vậy mà chẳng ai để ý tới. Hai mươi tuổi trái tim tôi bị vỡ một mảng ở phía bên trái - cảm nhận là như thế - vì tình yêu. Nghỉ hè tôi về quê mang theo tình yêu đầu tiên như chiếc lá bị sâu, úa vàng. Đêm, lén mẹ ra sân khóc một mình. Tiếng cóc nghiến răng nghe rờn rợn. Ngày mai trời mưa. Lúc còn sống ngoại tôi thường bảo: “Hễ cóc nghiến răng là trời sắp mưa”. Hơi sương ướt mi.
Chừng như là ánh nhìn... người đàn bà xương rồng tủi hờn giữa đêm. Tôi sợ đến thót tim, chợt nhớ về lớp sáu, về đám ma. Có lẽ là ngoại. Bao năm rồi ngoại lặng lẽ nơi bờ rào, hình thù cổ quái. Giọt mủ trắng đục ứa chảy từ nách gai. Tôi hốt hoảng: “Ngoại ơi”. “ừ, bà có khóc đâu. Già rồi có cố níu giữ cái gì lại với mình cũng đâu có được, ngay cả nước mắt cũng tự trào ra cho đến lúc cạn khô”.
Ông ngoại tôi đã hy sinh trong một lần làm nhiệm vụ ở chiến trường Tây Nguyên. Mãi đến năm một chín chín mốt mới được công nhận là liệt sĩ. Những năm ấy, nỗi buồn giống như mưa mùa đông cứ lứt rứt rơi trên từng sợi tóc bạc của bà. Tay tôi đâm phải gai, da non nên dễ chảy máu. “Đau lắm hả con. Bằng tuổi mày bà đã đi chăn trâu cắt cỏ, tay sần nốt chai, đâu có như bây chừ...”. Ngoại thở dài. Tiếng thở hắt khô như gió Lào.
Đi đến cuối cuộc đời cùng với ngoại tôi chỉ là đứa con nít. Đau thì khóc. Ngọt thì thích. Ngày chưa tìm được mộ ông, ngoại cứ đốt lửa ngồi đến tận sáng. Bệnh đái láy của con nít làm tôi hay dậy đêm. Bếp lửa cứ thế cháy rưng rức. “Người già thường khó ngủ phải không ngoại. Mà sao con mới hai mươi hai tuổi cũng khó ngủ?”. “Con không khó ngủ, tuổi trẻ sung sức, muốn đi đến cuối cùng của nỗi buồn xem nó như thế nào. Rồi sẽ qua thôi”. “Làm sao để con quên một người?”. “Quên ư. Với ngoại nỗi nhớ là gai xương rồng”.
Tôi còn nhớ trước năm một chín chín mốt, mỗi lần đến ngày thương binh liệt sĩ bà lại khóc. Mẹ tôi chỉ lặng im. Mẹ thắp cho ngoại cây đèn dầu, đĩa trầu cau, bình vôi và ấm nước chè đậm. Mười mấy năm ông chưa được ghi nhận là liệt sĩ, bà trở thành rơm rạ dưới cái nắng tháng năm điên đảo. Bà têm trầu. Bát nước chè đắng nhẫn. Cột nhà đầy nước trầu đỏ ối. Đã rất nhiều lần ba tôi cùng bà lên Tây Nguyên tìm mộ ông nhưng đều biệt tích. Lần nào trước khi đi bà đều thắp nhang lầm rầm khấn. Tôi nấp sau hàng cột. Khói bay nghi ngút.
Bà ngoại không duy tâm. Cuộc sống đôi khi có những chuyện không thể lý giải bằng khoa học. Cứ nghe những chuyện tìm mộ bằng tâm linh làm bà tôi khóc suốt. Ngày mai bà đi tìm ông.
Tây Nguyên bao la để thách thức lòng người. Xe băng qua từng ngọn đồi, con dốc. Bình nguyên trên cao nguyên cứ thế chạy dài đến vô cùng. Đất đỏ. Cây xanh. Mọi nỗi buồn tưởng chừng được vất lên cây thông non vô ưu ca hát. Dẫu biết đâu cũng là nước mình nhưng ngoại không nguôi vì ông chưa được chứng nhận là liệt sĩ. Chiến tranh. Giấy báo tử. Thời gian. Nỗi đau. Hóa ra cái quan trọng của sự hy sinh còn ở cả “giấy báo tử”.
Thành phố cao nguyên nóng đỏ da. Nắng hâm hấp. Đi thêm khoảng tám mươi cây số nữa là đến huyện gần cuối cùng của tỉnh Đắc Lắc. Tiếng cô ca sĩ nào đó vang lên từ loa phóng thanh: “Có cái nắng có cái gió không mang tên không mang tên người ơi”.
Ghé vào nghĩa trang liệt sĩ huyện, ngoại thắp nhang cho từng nấm mộ. Tay run run. Nắm nhang vẽ khói ngoằn ngoèo vào hư vô. Mỗi nấm mộ đều được các em học sinh dẫy cỏ sạch sẽ vào ngày “Nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ” do nhà trường tổ chức. Bà đưa tay khỏa lại lớp cát phẳng phiu.
“Ngoại ơi, có khi nào ngoại nghĩ rằng sẽ tìm được mộ ông?”. “Niềm tin cũng theo tuổi mà già đi. Một ngày... Hai ngày... Một năm... Hai năm... Một chục năm... Nó mòn mỏi quá con ạ. Cũng như đá cứ trơ tráo trên vách núi ngàn năm mà không bao giờ được đẽo gọt. Con có biết đá cũng có loại có đặc quyền thành tượng. Bà cũng thành đá mất rồi. Không phải đá tượng mà là đá núi, suốt đời tìm người đẽo gọt mà chỉ thấy lặng câm”.
Bóng trăng lọt qua lỗ hổng của hàng chè tàu, lốm đốm màu tai tái trên thân xương rồng. Tôi thấy tóc ngoại bạc gần hết. Càng khuya sương xuống lạnh. Bụi xương rồng cúi mặt. Dáng ngoại gầy nhẵng, xương xẩu ép mình dưới trăng.
Tối thứ ba hằng tuần, đều đặn, ngoại bật đài nghe chương trình “Nhắn tìm đồng đội”. Ngoài sân, tiếng lá trầu rụng vào mùa yêu thương, buốt nhức: Đã bao mùa trầu. Lá vàng. Lá xanh. Ngoại đã nhả bao nhiêu cái bã trầu mà ông chưa về. Chân cột đỏ ối màu nước trầu bà nhổ. Lòng bà như vạt đất ấy - ngày càng thẫm hơn.
Một ngày nọ, buổi chiều đã rủ rê đàn chim bay về tổ, Phòng lao động thương binh xã hội của huyện có tin về ông. Tôi không biết theo phản xạ tự nhiên hay phản xạ có điều kiện của chờ đợi, ngoại bật lên như dây đàn căng đến vô cùng. Bà chạy, chạy miết xuống đám ruộng trước cánh đồng.
Hồi chưa cải tạo đất nơi ấy là nhà của ông bà ngoại. Giờ chỉ còn cây dừa cô đơn giữa bao la. Bà ôm cây dừa mà khóc. Gió vi vút thổi bốn bề. Cả nhà tôi đêm ấy không ngủ. Ngày mai xã tổ chức truy điệu, công nhận liệt sĩ, mai táng cho ông ngoại ở nghĩa trang. Bà xuống bếp, nhen lửa nấu nước chè. Theo thói quen, mỗi khi ông đi đâu xa về phải có nước chè sẵn. Ấm nước chè sôi réo ùng ục tràn xuống bếp tro kêu xèo xèo.
Ngoại bưng bát nước chè đặt lên bàn thờ, đốt nhang. Khói nhang làm mắt bà cay xè. Nước mắt chảy vào rãnh chân chim vừa đủ tạo nên những dòng sông tí hon giữa hai bờ thái dương mênh mông. “Ngoại ơi, con lạnh”. “Khuya rồi con vô ngủ kẻo mẹ trông”. “Ngoại cũng ngủ đi. Trăng sắp tàn đầu non rồi đó ngoại”.
Tôi trở vào. Giấc ngủ ập đến...
THÙY DUNG |