Mấy năm gần đây, trên mọi miền quê cả nước đã khôi phục lại nhiều lễ hội làng, xã… với các sinh hoạt văn hóa truyền thống đa dạng, phong phú và hấp dẫn khách thập phương. Lễ hội (nói chung) còn nhiều khía cạnh đáng xem xét để các nhà quản lý văn hóa rút kinh nghiệm tổ chức tốt hơn. Thứ trưởng Bộ VH-TT Trần Chiến Thắng đã trao đổi với phóng viên SGGP về vấn đề này.
- PV: Thưa ông, việc khôi phục lại các lễ hội truyền thống của nước ta mấy năm gần đây như thế nào?
|
|
|
Thứ trưởng Trần Chính Thắng. |
- Thứ trưởng Trần Chiến Thắng: Thực tế các lễ hội Việt Nam đều gắn với lịch sử dân tộc. Mỗi lễ hội đều gắn với việc suy tôn một vị danh nhân cụ thể, một giai thoại lịch sử cụ thể hoặc một vị thần được nhân dân tôn thờ. Nếu khôi phục lễ hội một cách bài bản thì làm sống lại truyền thống văn hóa tốt nhất.
Về góc độ văn hóa thì có nhiều điều đáng nói như: những người làm việc khuyến học, khuyến nông, thực hiện nếp sống văn hóa, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau tình làng nghĩa xóm theo hương ước của làng… đều muốn được tuyên dương, báo công trước bàn thờ vị Thần được dân làng suy tôn khi khai hội.
Tóm lại, khôi phục lễ hội cũng là thúc đẩy phát triển văn hóa truyền thống của dân tộc. Việc tổ chức lễ hội kéo theo cả việc chuẩn bị nét đẹp tinh thần, góp phần giữ gìn giá trị nhân văn của truyền thống văn hóa Việt Nam. Ngoài ra nó có ý nghĩa giáo dục văn hóa và ôn lại lịch sử cho cộng đồng rất tốt. Dân đồng tình thì lễ hội mới được tổ chức, họ đồng tình tức là họ thành kính và tự nguyện đóng góp vật chất để tổ chức lễ hội.
- “Văn hóa là một động lực phát triển kinh tế xã hội...”đó là nói chung, nói riêng về lễ hội thì sao? Lễ hội có tạo ra hiệu quả kinh tế cho người dân địa phương? Cấp nào đầu tư và tiền thu được vào đâu?
- Lễ hội đã thực sự góp phần nâng cao đời sống của nông dân địa phương. Tất cả việc đầu tư đều do sức dân và thu lợi giúp dân có đời sống khấm khá hơn. Ví dụ: Nhà nước không chi ngân sách cho việc sửa chữa chùa, đền, miếu mạo hoặc làm võng lọng, đồ thờ, hoành phi câu đối ở địa phương.
Tất cả việc tu bổ, tôn tạo chùa chiền, mua sắm đồ dùng trong lễ hội đều do sức dân đóng góp. Nơi nào có lễ hội thì nơi đó có các dịch vụ phát triển, thế là tạo công ăn việc làm cho dân. Có thể tiền chưa vào ngân sách địa phương nhưng làm cho dân giàu lên.
Dân góp tiền làm đường vào di tích có lễ hội, dân đứng ra làm dịch vụ ăn uống, nghỉ ngơi, khách sạn, nhà hàng, thế là nghề xây dựng và nghề thủ công cũng theo đó phát triển như làm hàng mỹ nghệ để bán hàng lưu niệm. Hay như Chùa Hương chẳng hạn, hàng ngàn gia đình làm thuyền chở khách mỗi mùa lễ hội cũng thu được khoản tiền kha khá.
- Thế còn hiệu quả tinh thần thì sao, thưa ông?
|
|
|
Hương sắc Lào Cai trong mùa xuân 2006. Ảnh: MINH ĐIỀN |
- Dân cư các khu đô thị, công nghiệp sẽ đi đâu vào ngày nghỉ và ngày lễ? Họ có thể vào chùa thắp nén nhang cho thanh thản, có thể đến lễ hội địa phương để vui chơi, để hiểu biết thêm về phong tục tập quán mỗi vùng, mỗi dân tộc. Họ đến nghe những làn điệu dân ca ở từng vùng miền khác nhau như chèo, tuồng, bài chòi, quan họ, phường vải, ví dặm…
Du khách thì được thưởng thức văn hóa văn nghệ dân gian, dân địa phương thì có dịp diễn xướng phục vụ du khách. Đôi bên đều được hưởng thụ giá trị tinh thần, bởi mỗi người được thỏa mãn văn hóa theo nhu cầu cá nhân mình. Phát triển lễ hội cũng là giáo dục truyền thống, đối nhân xử thế ở nhiều cấp độ khác nhau.
- Vậy động lực phát triển kinh tế của văn hóa?
- Các sản phẩm công nghiệp đều cần có đầu ra, sản phẩm văn hóa cũng vậy! Ví dụ: các nhà sản xuất công nghiệp luôn phải suy nghĩ làm sao để đầu ra tiếp cận với xã hội. Muốn sản phẩm được người tiêu dùng ưa thích thì đòi hỏi phải có hình thức đẹp, mẫu mã luôn được cải tiến, chất lượng ngày càng phải được tốt hơn, đó chính là sáng tạo khoa học, là văn hóa trong công nghiệp.
Văn hóa là phạm vi rộng lớn, khả năng của ngành du lịch cũng dựa vào sản phẩm văn hóa để phát triển, ở đó có sẵn không gian văn hóa, thị trường, dịch vụ, sẽ cùng thúc đẩy phát triển kinh tế. Đi theo không gian văn hóa, kéo theo thị trường kinh tế (cả sản phẩm công, nông, ngư nghiệp) đều phát triển, từ sản phẩm nhỏ, đơn giản nhất đến mức độ khoa học tinh vi nhất…
- Theo ông, còn những hạn chế nào trong văn hóa lễ hội? Khắc phục những tiêu cực đó ra sao?
- Chúng ta hãy biết thông cảm cho bà con nông dân nơi diễn ra lễ hội. Đừng nhìn các dịch vụ ở lễ hội bằng con mắt của người thành phố hoặc nhìn dịch vụ ở khách sạn có sao… Bà con dọn vườn rau làm bãi trông xe một lần/năm, làm vội cái nhà vệ sinh cũng chỉ để sử dụng một lần/năm… Họ nghèo lắm, chỉ tranh thủ bán chút quà quê, trông xe theo vụ kiếm chút tiền theo lễ hội.
Đành rằng cũng có nhiều người lợi dụng cơ hội kiếm tiền bằng cách nâng giá quá cao. Nền kinh tế thị trường đổi mới 20 năm, nhưng việc khôi phục lễ hội chỉ mới có vài năm nay, tất cả các lễ hội đều chưa đồng bộ. Hầu hết đều do sức dân tự nguyện đóng góp đầu tư chứ nhà nước không chi ngân sách.
Cái đáng phê phán nhất ở các lễ hội hiện nay là vẫn còn nạn cờ bạc trá hình; quay số và chơi trò trúng thưởng ầm ĩ phá vỡ không gian văn hóa. Lợi dụng dịp này, người bán đồ lễ quá đắt, còn đốt vàng, mã, tiền giấy quá nhiều, kèm theo dịch vụ viết sớ, xem bói, với nhiều trò dị đoan lan tràn chưa dẹp được. Việc này vẫn là vấn đề chưa giải quyết được thấu đáo vì dẹp chỗ này, lại nảy sinh chỗ kia, chỉ khi nào người dân tự giác chấp hành nếp sống văn minh thì mới hết trò cờ gian bạc lận ở lễ hội.
- Xin cảm ơn ông.
THỦY VÂN thực hiện |