Tai nạn lao động (TNLĐ) tại TPHCM đang tăng qua các năm và đứng trong tốp đầu so với các địa phương khác trong cả nước. Tính riêng trong năm 2006, toàn TP có 98 vụ TNLĐ, làm chết 101 người, tăng 50,7% so với năm 2005.
- Những vụ tai nạn thương tâm
Lao động trên cao, không có trang phục bảo hộ dễ bị tai nạn lao động.
Ảnh: ĐÀI TRANG
Chỉ riêng năm 2006, Công ty cổ phần Xây dựng số 5 (quận Bình Thạnh) đã liên tiếp xảy ra 3 vụ tai nạn lao động làm chết 3 người.
Cụ thể là vụ công nhân Lộ Quy Na 16 tuổi bị sụp giàn giá đỡ, rơi từ tầng 7 công trình xây dựng chết tại chỗ. Chưa đầy 2 tháng sau, công trình xây dựng trụ sở UBND xã Phạm Văn Cội huyện Củ Chi cũng do công ty trên thi công lại để xảy ra TNLĐ chết người.
Anh Phạm Văn Thíu, thợ sơn nước đã chết vì bị té giàn giáo. Nguyên nhân của vụ tai nạn là do công nhân lắp dựng giàn giáo không thực hiện đúng quy trình và hơn hết là công trường không có biện pháp kiểm tra để kịp thời phát hiện.
Mới đây nhất, trong tháng 1-2007, tại một công trình khác của công ty này lại có công nhân chết trong khi đang làm việc. Tình trạng thiếu an toàn và xem nhẹ khâu bảo hộ lao động (BHLĐ) ở công ty trên đã đến mức báo động.
Theo phân tích tình hình TNLĐ của Sở LĐTB-XH, năm 2006, loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) chiếm đến 58% số vụ TNLĐ chết người.
Công nhân Nguyễn Ngọc Lợi, Công ty TNHH Xây dựng- Dịch vụ Tân Kỷ cũng chết do rơi từ độ cao 18m. Nguyên nhân là công trường thi công không có lưới hoặc lan can bảo vệ, băng giới hạn, biển báo khu vực nguy hiểm.
Ngày 4-12-2006, tại Công ty TNHH Phi Kha, 2 công nhân đang lắp kính cho một tòa nhà thì lồng kính trượt mốc rơi xuống đất làm chết cả hai. Tại Công ty TNHH Giang Hải Hà, quận 1, một công nhân bốc xếp chết khi đang bốc dỡ trên tàu do công ty không tổ chức tốt việc đảm bảo ATLĐ khi thi công xếp dỡ vào ban đêm, điều kiện ánh sáng không đủ, hạn chế tầm nhìn.
Trên đây chỉ là một vài trong số rất nhiều trường hợp để xảy ra TNLĐ ở các khu vực DNNQD, chưa kể TNLĐ ở DN không đăng ký kinh doanh hiện rất phổ biến và không thể kiểm soát nổi.
- Đâu là nguyên nhân?
Theo anh Nguyễn Hữu Quang, chỉ huy trưởng công trình Công ty cổ phần Đầu tư hạ tầng Sài Gòn: mỗi khi TNLĐ xảy ra, dư luận thường quy trách nhiệm cho DN.
Các doanh nghiệp, nhất là DN xây dựng, vì lý do cạnh tranh nên đưa giá thầu công trình thấp, trong khi định mức xây dựng cho từng hạng mục quá lạc hậu, vẫn giữ mức từ khoảng chục năm trước.
Ông Lê Viết Hải, Giám đốc Công ty cổ phần Xây dựng và kinh doanh địa ốc Hòa Bình cho biết, lý do dẫn đến việc nhiều đơn vị không quan tâm công tác BHLĐ là do chi phí cho việc này khá cao, đặc biệt trong các công trình xây dựng.
Theo ông Hải, chi phí cho an toàn lao động chiếm khoảng 1% tổng giá trị công trình, thậm chí có công trình có tổng chi phí xây dựng khoảng 22 tỷ đồng nhưng Công ty Hòa Bình chi đến trên 1 tỷ đồng (khoảng 5%) cho công tác bảo hộ an toàn lao động.
Thiếu thiết bị bảo hộ lao động, tình trạng phổ biến hiện nay.
Ảnh: ĐÀI TRANG
Ông Huỳnh Tấn Dũng, Trưởng Ban Thanh tra kiểm tra an toàn bảo hộ lao động Sở LĐTB-XH TPHCM cho rằng có 3 nguyên nhân dẫn đến tình trạng số vụ tai nạn lao động tăng: thứ nhất do việc tuyên truyền phổ biến các văn bản pháp quy cũng như các quy định về an toàn lao động còn quá kém, nếu không muốn nói gần như chưa có một kênh chuyên trách tuyên truyền về vấn đề này.
Hầu hết các DN đều tự tìm hiểu là chính. Được biết hàng năm Liên đoàn Lao động TPHCM, Sở LĐTB-XH… đều tổ chức tập huấn về an toàn vệ sinh lao động như năm 2006 có lớp về BHLĐ, năm 2007 mở lớp về an toàn vệ sinh lao động trong xây dựng….
Mỗi đợt mở lớp tập huấn có hàng trăm DN đăng ký tham gia tập huấn, tuy nhiên con số này còn quá ít so với tổng số vài chục ngàn DN đang hoạt động trên địa bàn TP. Nguyên nhân thứ hai là ý thức của người sử dụng lao động và của bản thân người lao động.
Kết quả từ những lần kiểm tra an toàn lao động, các DN do nước ngoài đầu tư thì việc trang bị BHLĐ tốt hơn các DN trong nước. Đối với các DN nhỏ hoặc các nhà thầu tư nhân thì việc BHLĐ rất kém, thậm chí gần như không có.
Tuy nhiên, ngoài ý thức của người sử dụng lao động thì ý thức của bản thân người lao động cũng rất kém, không ít trường hợp tuy được trang bị thiết bị BHLĐ nhưng người lao động không sử dụng.
Theo các công trình viên, ở một số nước như Singapore, công nhân từ chối làm việc khi DN không trang bị đủ phương tiện BHLĐ. Còn người lao động Việt Nam thường chỉ quan tâm đến tiền công. Nguyên nhân thứ ba là việc kiểm tra, thanh tra cũng chỉ làm cho có.
Ông Dũng cũng đưa ra con số, hiện cả Ban Thanh tra kiểm tra an toàn BHLĐ Sở LĐTB-XH chỉ có 8 người trong khi có tới hàng chục ngàn DN xây dựng, sản xuất trên địa bàn TP.
Nguyên nhân chủ yếu gây TNLĐ năm 2006 do: điện giật, ngã cao, té hầm, máy móc cuốn kẹp, vật đổ đè văng, chết ngạt… Trong đó, lĩnh vực xây dựng chiếm 53%, sản xuất công nghiệp 33%, dịch vụ 10%, GTVT 4%. (Nguồn: Sở LĐTB - XH TPHCM) |
Trong khi đó, cũng với số lượng công việc tương đương như TPHCM, một TP của Australia có đến 200 thanh tra viên về an toàn lao động.
Chính vì vậy việc kiểm tra rất hạn chế, trong cả năm 2006 Ban Thanh tra kiểm tra an toàn BHLĐ chỉ kiểm tra được 80 đơn vị, qua đó kiến nghị xử phạt 15 DN.
Với người lao động, nguy cơ tai nạn lao động vẫn luôn treo lơ lửng. Nguyên nhân của các vụ tai nạn lao động dường như… cũng đã rõ.
Vấn đề còn lại là trách nhiệm và biện pháp của các cơ quan chức năng nhằm giảm tới mức thấp nhất các vụ tai nạn lao động.
CHIẾN DŨNG - MAI HƯƠNG