30 năm “nghiệp chữ” ở rừng

30 năm “nghiệp chữ” ở rừng

Gần 30 năm có lẽ, thầy Mễ vẫn giữ dáng ngồi lom khom thổi lửa như thế. Hạt cơm nuôi cái dạ, cái chữ nuôi hy vọng về lớp trẻ. Nhiều đồng nghiệp đã bỏ đi, nhưng thầy vẫn ở đó, một mình một bóng, xem ra cái nghiệp “truyền chữ” đã vận vào người của thầy, một mình dạy 5 lớp từ mẫu giáo đến lớp 4 trong một ngày. Thầy vẫn ở trong căn phòng cũ. Nỗi buồn thầm kín của người trí thức vùng xa, hiếm hoi mới có dịp thổ lộ...

30 năm “nghiệp chữ” ở rừng ảnh 1

Thầy Mễ trong căn nhà sập do bão.

Bóng tối xuống nhanh lùa vào, rồi rúc hẳn vào bạt ngàn sim mua, chắn kín sau lưng, trước mặt. Đường lâu lắm họa hoằn mới lộ ánh đèn dầu.

Sáng nay, khi xuống thuyền ngược dòng Thu Bồn, chúng tôi đã hội ý rằng, tìm đại chỗ nào đó tá túc qua đêm. Chủ ý ấy, không phải là đám nhà báo sợ điều này điều nọ, mà do đã nghe cảnh báo rằng vùng Quế Lâm sốt rét dữ lắm.

Nhác ngó nhà ông Phạm Ước, thôn trưởng Cấm La có phần chật chội, tôi từ bỏ ý định xin qua đêm, mà buộc miệng hỏi: “Ở đây có nhà thầy giáo nào không?”. Tức thì, được đáp rằng: “Thầy Phan Văn Mễ ở một mình, rộng rãi lắm”. Thú thật, sau mấy giờ đi vòng vòng thăm hỏi bà con, bụng bảo dạ, hãy tìm một người có thể kể mình nghe được nhiều chuyện của vùng này…

Ở cái thôn Cấm La có 60 hộ với 245 khẩu này, sao chỉ thấy mỗi nhà thầy giáo Mễ đặc lệ đùng đục ánh điện? Khi đã rũ bỏ hết những nghi lễ xã giao khách-chủ, anh mới hé rằng: “Cả cái huyện Quế Sơn (tỉnh Quảng Nam) này, mình là người xài điện đầu tiên đấy. Không tin à? Năm 1979, vừa đặt chân đến thôn này, tôi đã nghĩ đến chuyện đặt tuốc-bin phát điện. Kéo dài mãi đến giờ, đủ thắp cho 3 nhà vì công suất nhỏ. Xài sang nhe, thắp 24/24 giờ. Nó có yếu, tù mù đi nữa thì cũng hơn đèn dầu”.

Hơn là cái chắc, khi ngọn đèn dầu phần phật ngả nghiêng trong đêm mưa, không đủ rọi cho anh cùng chúng tôi lọ mọ mổ vịt mua từ trong xóm Mới.

Nhìn anh chăm chút có phần nhiệt tình thái quá để chăm sóc 3 vị khách bất đắc dĩ đường xa, lại có lúc được anh sai khiến mở cái tủ đựng đồ nấu ăn chút ái ngại nhưng tôi vẫn cảm được cái vị vui vẻ được giấu kín từ dáng tất bật của anh để lo cho bữa ăn lên mâm.

Ở đây muốn đi chợ cho tươm thì phải lội bùn hơn 2 giờ ra bến sông, rồi thêm 2 giờ nữa xuôi đò xuống Trung Phước. Lâu như thế mà ngược về thì cá cũng đã khô rồi. “Vào đây quá ngán phải không ? Ăn thua chi. Hồi đó mình anh, dạy bên Nà Lau, lại chạy sang giảng ở Đồng Lớn. Làm gì có đường, vạch cây mà đi. Từ đây sang Đồng Lớn, nếu đi tắt thì gần, nhưng đường đầy cọp nên không dám. Đi bộ. Tụi bay lội mới một buổi, chứ anh đây gần 30 năm nộp tiền giao thông nông thôn mà chưa một lần tránh được bùn”.

Vắng ngắt. Tôi cố nhìn xuyên qua nhà đối diện bên kia đường nhưng đành chịu. Tối mịt mùng. Chỉ có gió từ đỉnh Dương Dẻ đổ xuống.

30 năm “nghiệp chữ” ở rừng ảnh 2

Những đứa trẻ ở Cấm La.

Lúc mới bước vào nhà, tôi cố ý xem thầy giáo bày biện sách vở ở đâu. Chịu. Tuồn tuột từ trên xuống bếp là vài ba cái tủ đựng thức ăn, muối mắm ngổn ngang, trên chiếc giường là chén đũa xoong chảo.

“Ở đây là thế thôi, có gì đâu em”. Cái giọng nhẹ nhàng như gió ấy, ngay cả lúc cao hứng âm vực cũng “thường thường bậc trung”, hình như đây là kết quả của gần 30 năm ở rừng.

Dân biển thường giọng lớn. Người rừng nói vừa đủ nghe, bởi to tiếng thì nó vọng như có người nhại lại, rồi rừng thâm u lúc nào cũng mang vẻ bí hiểm.

Anh nói đủ nghe, nhưng anh là lõi sắt già lửa, nhẹ nhàng mà cứng trân. Làm hiệu trưởng. Rồi nhập trường lại, làm phó. Bây giờ là giáo viên phân hiệu Cấm La.

Hôm sau, tôi có dịp rảo qua xã, mới thấy cùng là con của bà mẹ xã Quế Lâm huyện Quế Sơn, nhưng sao bên xã đường sá phong quang, trường học xây gần 500 triệu đồng, với hai tầng mới cứng, mà sao cái lớp học của thầy Mễ quạnh quẽ đến thảm hại như thế? Cũng không hiểu nổi căn cớ quấn quanh đến kỳ lạ giữa chức trách và công việc anh đang làm.

Cả phân hiệu đó có 5 lớp. Nhưng, phòng học thì là chơi theo kiểu “5 trong 1” nghĩa là 1 mẫu giáo, 4 lớp từ lớp 1 đến lớp 4, học chung 1 phòng trong ngày.

Hiệu trưởng, giáo viên, cô mẫu giáo cũng chỉ là một mình anh. Sáng 3 lớp, chiều 2 lớp. Tổng số 25 học trò. Anh kể chuyện ở đây: “Cực quá, học trò bỏ học gần hết. Cả cái thôn ni, gần 30 năm, chẳng có một đứa nào đại học”.

Nhìn anh chồm người thổi phù bếp lửa, bóng hắt mờ đục trên vách gỗ cũ mòn xám bụi ẩm ướt, làm tôi chợt nghĩ: Gần 30 năm nay, thầy giáo Mễ đã khom mãi như thế. Miếng ăn nuôi dạ, cái chữ nuôi hy vọng về lớp trẻ. Gần 30 năm qua, đêm đêm lặng lẽ nhưng sau vầng trán đã hằn nếp nhăn kia đã kết tủa những tâm tình của một người được xem là trí thức số một ở cái làng hiểm địa khuất nẻo sông Thu Bồn này.

“Hồi mới đến, giáo viên khá đông. Nhưng sau đó, cơn lốc tìm trầm, đãi vàng ngang qua đây đã cuốn đi hết, kẻ bỏ dạy rúc vào rừng sâu đào bới quyết đổi đời, người có tiền thì xin chuyển về xuôi. Sót lại mình anh. Dạy được 2 năm thì anh định xin về quê ở Điện Quang-Điện Bàn. Nhưng, bà con kiến nghị xin anh ở lại.

Thế là dính miết đến chừ. Anh cho rằng kiến thức mình đã bị tụt hậu vì phương tiện không có, riêng chuyện đi họp dưới huyện cũng phải hết một ngày đường, đừng nói đến chuyện nghe thông tin thời sự, anh chỉ biết loáng thoáng qua radio thôi”.

Hồi mới làm tuốc pin, có cái ti vi, anh mở cả ngày đêm cho bà con xem. “Em tưởng tượng, cả cái thôn này 30 năm không hề biết ánh điện, ai dám vào đây mà dạy. Mình ăn lương, làm nghiệp thầy thì không thể bỏ trò. Nhưng, thú thật buồn lắm.

Đường dẫn vào đây bắt đầu từ bến Sé. Bên kia là bến Tý. Sé, Tý, Dùi Chiêng... những địa danh đầu nguồn Thu Bồn, đọc lên đã thấy cái trúc trắc, trục trặc. Bữa tôi về, anh đứng nhìn theo lặng lẽ. Mưa giăng kín mặt sông...

TRUNG VIỆT

Tin cùng chuyên mục