Bầu trời và ngôi sao

Việt Nam đã chính thức gia nhập WTO, đó là “trái ngọt của 20 năm miệt mài chuẩn bị, 20 năm Hà Nội nỗ lực cải cách và chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, 20 năm đổi mới”, tờ Le Figaro bình luận.

Không dễ dàng để “Le Monde”, vẫn được xem là tờ báo quy chiếu của giới trí thức phương Tây, đánh giá rằng “Việt Nam gia nhập WTO có thể làm thay đổi cân bằng kinh tế ở châu Á cũng như trên thế giới”. Còn Hãng Reuters lại nhận định rằng việc Việt Nam gia nhập WTO ngay trước thềm Hội nghị APEC thực sự là làn gió mát khiến vị thế của nước chủ nhà được nâng cao, đồng thời tạo ra động lực kép thúc đẩy Việt Nam bước những bước xa hơn về ngoại giao và thương mại.

Tim Tucker, Hãng Ford Việt Nam thì nhận định rằng: “WTO có thể ví như con dấu chứng nhận chất lượng của nền kinh tế Việt Nam mà rất nhiều các công ty lớn trông đợi. Họ đang chờ để tràn vào Việt Nam như nước lũ”!

Cuộc phấn đấu bền bỉ và nhẫn nại miệt mài trong 11 năm để gặt hái được thành công chứng minh rằng đất nước đã bay vào quỹ đạo của phát triển. Đó là xu thế chung của thời đại, dù muốn hay không nếu không cam chịu bị đẩy ra khỏi quỹ đạo đó. Vào WTO chỉ là một cột mốc của hành trình còn dài dằng dặc, song là cột mốc rất có ý nghĩa vì nó chứng minh quyết tâm của Việt Nam muốn là bạn của thế giới. Nước chủ nhà của APEC 2006, đất nước ta đang có dịp thể hiện quyết tâm đó. Theo tạp chí “Time” ra ngày 13-11-2006 nhận định: “Việt Nam đang trở thành điểm đến hứa hẹn của các nhà đầu tư, với niềm tin đất nước này đã sẵn sàng để tiến hành những cải cách đột phá về tự do kinh tế và mở cửa với thế giới”.

Như vậy là, con thuyền dân tộc đã dong buồm thời đại, lướt sóng đại dương. Để có cái bản lĩnh “sóng cả không ngả tay chèo”, phải dám nhìn lại mình để chủ động bước vào thách thức mới, biến thách thức thành vận hội, đưa đất nước chớp lấy thời cơ, bứt lên. Sóng đại dương, đương nhiên không như “sóng biếc theo làn hơi gợn tí” ru người trong “chiếc thuyền câu bé tẻo teo” đang ngủ quên trên ao làng của cụ Tam nguyên Yên Đổ! Đừng quên rằng, từ cái ao làng này, con người Việt Nam đã bước ra sát mép nước biển Đông. Đứng trước bao la của Thái Bình Dương mênh mông sóng vỗ, không hiểu có phải bị choáng ngợp và sợ say sóng không, mà lại quay về với sự an ủi: “Ta về ta tắm áo ta, dù trong, dù đục ao nhà vẫn hơn”.

Chính cái sự “quen” này đã dìm chết bao khát vọng muốn bung ra khỏi cái hạn hẹp, bảo thủ trì trệ của ao tù nước đọng với một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, triền miên trong suốt chiều dài lịch sử không có mấy đổi thay về kỹ thuật và công nghệ sản xuất. Cái cày chìa vôi từ thời nhà Lý thế kỷ XI vẫn còn phổ biến trên các cánh đồng thế kỷ XX. Khi thực dân Pháp xâm lược, xã hội Việt Nam vẫn là một xã hội đặc quánh “nông vi bản”. Một xã hội tuyệt đối đóng cửa, khước từ hội nhập, khước từ canh tân. Thế thì mất nước là chuyện khó tránh.

Trong “Thời vụ sách”, Nguyễn Lộ Trạch viết: “Hiện nay thời thế như cục ung thư lớn. Trị thì không có phương thuật. Không trị chăng? Thì không thể cam ngồi mà ngó. Điều lo trong thiên hạ không phải ở chỗ nước yếu và nghèo, mà ở chỗ không gắng sức làm việc tự cường”. Không “làm việc tự cường được” là do lối suy nghĩ trì trệ: “Nước ta thì từ trước cấm dân đi ra hải ngoại, dân không đi buôn xa, trong nước không có bọn buôn, mà muốn dắt người buôn nước ngoài đến, thế chưa có thể vội được” (*) như lời các trọng thần tâu lên vua Tự Đức. “Chưa có thể vội” khi mà những chiến thuyền thực dân đã áp sát cửa sông, súng xâm lược đang chực nhả đạn!

Những khúc đoạn trường đầy máu và nước mắt mà dân tộc đã phải trải qua từ khi mất nước cho đến khi giành lại được độc lập kể sao cho hết. Bài học mất nước có nhiều, trong đó, mất thời cơ là cái mất oan uổng nhất, mà hệ lụy của nó thì thật khó lường hết. Khi mà nước Nhật của vua Minh Trị biết mở cửa đón nhận nền văn minh công nghiệp thì những đầu óc canh tân của Việt Nam lại bị khước từ do sự bảo thủ, trì trệ của nhà cầm quyền, đánh mất cả một giai đoạn của sự phát triển, để lại một hậu quả lâu dài và nghiệt ngã.

Đại hội X phê phán: “Tư duy của Đảng trên một số lĩnh vực chậm đổi mới; một số vấn đề ở tầm quan điểm chủ trương lớn chưa được làm rõ nên chưa đạt được sự thống nhất cao về nhận thức và thiếu dứt khoát trong hoạch định chính sách, chỉ đạo điều hành”. Thế rồi, chỉ sau hơn 6 tháng từ Đại hội X, tháng 11 này diễn ra những sự kiện mang tầm vóc của “tầm quan điểm chủ trương lớn” nói trên, chứng minh tính kịp thời của sự phê phán đúng đắn ấy. Đất nước đang dồn dập những bước có ý nghĩa cần được ghi nhận như những cột mốc của đổi mới: mở cửa, hội nhập và hợp tác quốc tế.

Bầu trời đã mở rộng, để không bị chìm đi trong bầu trời đầy sao, kể cả những ngôi sao đã tắt mà ánh sáng của nó bây giờ mới đến được trái đất, cả dân tộc phải dám nhìn lại mình, thấy được mặt mạnh, đặc biệt là phải dám thấy cho thật rõ mặt yếu của mình để biết mình phải làm gì.

Lênin đòi phải hành động. Gớt thì nói cần biết ước mơ. Tục ngữ Việt Nam thiết thực dạy rằng “Có cứng mới đứng được đầu gió”. Có ước mơ mới đủ bản lĩnh hành động.

Lúc này càng cần phải có bản lĩnh. Bản lĩnh đứng đầu gió!

TƯƠNG LAI

————————————
(*) Trần Văn Giàu “Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam…”Tập I. NXBKHXH” 1975, tr.407.

Các tin, bài viết khác