Bí mật chương trình khảo cung của CIA

Bí mật chương trình khảo cung của CIA

Tháng 3-2007, Mariane Pearl – vợ của phóng viên Daniel Pearl thuộc tờ Wall Street Journal (người bị sát hại vào tháng 2-2002 tại Pakistan) – nhận được cú điện từ đích thân Bộ trưởng Tư pháp Alberto Gonzales (sẽ chính thức từ chức ngày 17-9-2007), cho biết tên khủng bố Khalid Sheikh Mohammed (bị bắt năm 2003) đã thú nhận là thủ phạm bắt cóc và chặt đầu Daniel Pearl. Mariane Pearl vô cùng kinh ngạc, vì năm 2003, cô từng nhận cú điện tương tự từ Condoleezza Rice (lúc đó là cố vấn an ninh quốc gia)! Thế là thế nào? Đằng sau sự thú nhận của Khalid Sheikh Mohammed (KSM) có gì bất thường?

CIA khảo cung tù nhân như thế nào?

Bí mật chương trình khảo cung của CIA ảnh 1

Tù nhân khủng bố tại Guantánamo.

Trong bài viết về những địa điểm đen (black sites) mà Cơ quan Tình báo trung ương Hoa Kỳ (CIA) dùng giam và khảo cung nghi can khủng bố trên New Yorker (13-8-2007), tác giả Jane Mayer đã hé lộ nhiều thông tin cho thấy rõ hơn chương trình khảo cung tuyệt mật và tai tiếng của CIA. Viên chức CIA, Randall Bennett (chỉ huy an ninh Lãnh sự quán Mỹ tại Karachi-Pakistan thời điểm Daniel Pearl bị giết) cho biết, mình từng phỏng vấn tất cả những kẻ liên quan (hiện đều bị giam tại Pakistan) và chẳng người nào nói KSM là thủ phạm trực tiếp giết Daniel Pearl. Cựu viên chức CIA Robert Baer cũng nói: “Những đồng nghiệp cũ của tôi cho biết chắc chắn 100% KSM không giết Pearl”. Vậy dựa vào đâu Bộ Tư pháp có thể tung ra cuộn băng ghi âm KSM thú nhận mình là kẻ giết Pearl? Phải chăng có sự ép cung?

Vụ việc có thể tóm lược như sau. Ngày 1-3-2003, tình báo Pakistan và Mỹ đột kích nhà riêng của Ahmad Abdul Qadoos và thộp kẻ khủng bố nguy hiểm KSM. Vụ bắt KSM được đánh giá là mẻ lưới lớn trong cuộc chiến chống khủng bố. Tuy nhiên, sự việc có vài chi tiết mờ ám. Vài người cho rằng KSM thật ra đã bị bắt trước ngày 1-3 (không như thông báo chính thức của Cơ quan tình báo Pakistan). Phóng viên Mark Bowden (The Atlantic Monthly) cho biết Abdul Qadoos đã khẳng định với mình rằng KSM chưa từng có mặt trong nhà ông và đoạn băng quay cảnh bắt KSM là ngụy tạo. Trong cuộn băng hình, KSM trông xơ xác và hoảng sợ. Hai ngày đầu tiên sau khi bị bắt, KSM không nói gì ngoài việc khai tên tuổi. Ngày thứ ba, KSM (bị trùm đầu) được đưa đến căn cứ không quân Chaklala tại Rawalpindi (Pakistan) và nộp cho quân đội Mỹ. Từ đó, KSM được chuyển đến căn cứ Mỹ tại Bagram (Afghanistan) rồi vài ngày sau được đưa đến vị trí bí mật nào đó. Ít lâu sau, có tin KSM tiết lộ nhiều “thông tin tình báo vô giá”. Tại sao KSM chịu khai? Có phải đã bị tra tấn tơi tả bằng các biện pháp “nghiệp vụ” trong buồng khảo cung kín như bưng?

Tra tấn tù nhân nhằm lấy lời khai, trong thực tế, tiếp tục tồn tại nhiều nơi. Không chỉ can phạm chính trị, tù hình sự cũng bị bầm giập bởi tra tấn. Mỗi năm, các tổ chức nhân quyền như Amnesty International hoặc Human Rights Watch đều cung cấp báo cáo những trường hợp tra tấn tàn bạo xảy ra nơi này hoặc nơi kia. Somalia, Iran, Saudi Arabia, Nigeria, Sudan… là vài nước còn phổ biến hành vi tra tấn hoặc ngược đãi con người nói chung. Hiệp định Geneva cấm bất kỳ hình thức nào liên quan ngược đãi tù nhân. Riêng trong trường hợp can phạm khủng bố bị Mỹ bắt giữ, người ta nghi rằng biện pháp tra tấn đã và đang được dùng để lấy lời khai. Không ai biết bao nhiêu tù nhân khủng bố đang bị Mỹ nhốt. Tính đến ngày 9-8-2007, trại Guantánamo (Cuba) đang giam 355 tù nhân, chưa kể số tù nhân bị giam tại Pakistan, Saudi Arabia, Ai Cập, Sudan, Syria, Jordan, Morocco, Yemen, Singapore… Riêng bọn đầu sỏ Al-Qaeda như KSM, Abu Zubaydah, Abd al-Rashim al-Nashiri, Ramzi bin al-Shibh hoặc Tawfiq bin Attash, không ai biết chúng bị nhốt ở đâu và được đối xử như thế nào.

Trong vài trường hợp, thời điểm công bố bắt nghi phạm luôn được lùi lại. Vụ bắt Abu Anas Liby tại Sudan vào tháng 2-2002 đã không được công bố cho đến một tháng sau và có thể chậm hơn hoặc thậm chí không bao giờ được thông báo nếu như tờ Sunday Times (Anh) không mò ra thông tin về việc Abu Anas Liby được Mỹ chuyển sang Ai Cập. Tháng 9-2002, tường trình trước các ủy ban đặc trách tình báo Thượng viện và Hạ viện Hoa Kỳ, Cofer Black (viên chức Bộ ngoại giao Mỹ) cho biết số nghi phạm khủng bố bị giam không phải vài trăm mà khoảng 3.000. Cũng trong tháng 9-2002, (nguyên) Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Donald Rumsfeld nói rằng việc thẩm cung các tên trùm khủng bố đã cung cấp “nhiều thông tin kinh hoàng”, dẫn đến việc tóm được nhiều gương mặt cộm cán. Theo những gì được cung cấp báo chí, KSM bị thộp nhờ lời khai của Bin al-Shibh; Bin al-Shibh bị bắt nhờ Abu Zubaydah chỉ điểm… Tuy nhiên, “bao nhiêu trong những thông tin này có thể tin cậy được?” – Mark Bowden (The Atlantic Monthly) đặt câu hỏi. Theo Bowden, thành phần cứng đầu như Abu Zubaydah, Bin al-Shibh, KSM… khó có thể “trong một phút yếu lòng” mà khai ra đồng bọn hoặc cung cấp thông tin tình báo liên quan nội bộ Al-Qaeda, nếu chỉ bằng biện pháp thẩm cung bình thường. Trên New Yorker, tác giả Jane Mayer đã thuật câu chuyện liên quan Binyam Mohamed (hiện bị giam tại Guantánamo). Kể với luật sư Clive Stafford Smith, Binyam cho biết một trong những biện pháp tra tấn được CIA áp dụng là “dội bom” âm thanh vào buồng giam với dàn loa công suất cực mạnh và cuộc tra tấn kéo dài 24/24 giờ trong nhiều tuần hoặc thậm chí nhiều tháng!

“Bề dày” lịch sử khảo cung của CIA

Khảo cung bằng tra tấn luôn là hành vi gây kinh sợ. Năm 1953, John Lilly thuộc Viện Sức khỏe tinh thần quốc gia (Mỹ) phát hiện rằng bằng cách đặt điện cực lên não khỉ, ông có thể tạo ra cảm giác đau đớn, giận dữ, sợ hãi, thậm chí vui sướng hoặc kích thích tình dục cho con vật (trong thí nghiệm, John Lilly đã làm một khỉ đực cương cứng). John Lilly bỏ ngang thí nghiệm nhưng nghiên cứu của ông được CIA quan tâm. Sau này, tác giả John Marks từng tiết lộ kỹ thuật tra tấn bằng điện của CIA trong quyển The Search for the “Manchurian Candidate”: The CIA and Mind Control (1979); và năm 2001, George Andrews cũng đề cập tương tự trong MKULTRA: The CIA’s Top Secret Program in Human Experimentation and Behavior Modification.

Một trong những “chương trình tuyệt mật của CIA” là kỹ thuật đánh thuốc (khủng bố tinh thần và bóp nát ý chí), trong đó có thuốc ảo giác LSD (Lysergic Acid Diethylamide). Được phát hiện ngẫu nhiên trong một phòng thí nghiệm Thụy Sĩ năm 1943, LSD được quân đội Mỹ sử dụng trong khảo cung vào năm 1961, khi đánh thuốc 9 người nước ngoài và một lính Mỹ tên James Thornwell, bị buộc tội đánh cắp tài liệu tuyệt mật (Thornwell sau này kiện Chính phủ Mỹ và được bồi thường 650.000 USD). Hiệu quả đạt được từ khảo cung bằng đánh thuốc đều được miêu tả tỉ mỉ trong Kubark Manual (cẩm nang kỹ thuật khảo cung CIA) ấn hành năm 1963. Được moi ra ánh sáng năm 1997 (nhờ Đạo luật tự do thông tin với điều tra của ba phóng viên tờ Baltimore Sun - Gary Cohn, Ginger Thompson và Mark Matthews), Kubark Manual tiết lộ tất cả biện pháp tra tấn kinh hoàng mà tình báo và quân đội Mỹ từng áp dụng. Hầu hết kỹ thuật và lý thuyết tra tấn miêu tả trong Kubark Manual sau này được CIA nêu lại trong tập Human Resource Exploitation Training Manual (còn được gọi Honduras Manual) ấn hành năm 1983.

Michael Koubi (nguyên chánh thanh tra thẩm cung thuộc Tổng cục An ninh Israel, người mà Mark Bowden đánh giá rằng “có kinh nghiệm hơn bất cứ ai khác trên thế giới” về nghệ thuật khảo cung) kể rằng một trong những kỹ năng quan trọng là biết ngôn ngữ tù nhân. Chỉ khi biết ngôn ngữ tù nhân, chuyên viên thẩm cung mới có thể uy hiếp và làm đối phương “mềm như bún”. Ngoài ra, có vài cách để làm đối tượng mất tự chủ cũng như không thể kiểm soát ý chí, chẳng hạn hỏi liên tục, cắt ngang câu trả lời, hỏi lại ý cũ bằng cách đảo lộn câu; hoặc vài mánh cũ nhưng luôn hiệu quả như “kỹ thuật im lặng” (được miêu tả trong Kubark Manual), thực hiện bằng cách nhìn trừng trừng đối tượng và nhếch mép cười ra vẻ mình biết tất cả… Bill Wagner (cựu nhân viên CIA) kể thêm rằng CIA từng đào tạo khóa ba tuần về kỹ thuật khảo cung tại “nông trại” (trại huấn luyện CIA ở Williamsburg, bang Virginia). Trong thời gian tham gia, học viên bị cách ly hoàn toàn, không được ngủ, bị nhốt trong buồng tối và sống trong môi trường cực kỳ khắc nghiệt… (thông thường, ít nhất 10% học viên đã phải bỏ cuộc). Chương trình trên bị xóa sổ sau vài năm (thập niên 70) sau khi CIA bị Quốc hội liên tục chỉ trích kể từ loạt xìcăngđan liên quan trò bẩn gây ra khắp thế giới...

Tháng 7-2007, Nhà trắng ra sắc lệnh yêu cầu CIA điều chỉnh phương pháp khảo cung để không vi phạm Công ước Geneva. Tuy nhiên, giám đốc CIA Michael Hayden vẫn nói rằng chương trình khảo cung tù nhân khủng bố là công cụ “không thể thay thế” và Tổng thống Bush cũng phát biểu “chương trình đã cung cấp cho  chúng ta thông tin giúp cứu nhiều mạng sống vô tội”, nhờ đó phá được ít nhất 10 âm mưu nghiêm trọng từ sau sự kiện 11-9 mà ba trong đó là những kế hoạch dự trù ngay trong lòng nước Mỹ.

Trở lại vụ KSM. Yosri Fouda – phóng viên Al-Jazeera từng phỏng vấn KSM tại Karachi – nói rằng dù KSM từng trao mình gói tài liệu tuyên truyền trong đó có cuộn băng ghi lại cảnh giết Daniel Pearl nhưng KSM chưa bao giờ thừa nhận mình tham gia vụ sát hại nhà báo trên. Câu hỏi liệu KSM có giết Daniel Pearl đúng như lời khai của hắn được ghi âm lại và cung cấp cho báo chí hay không tiếp tục bỏ ngỏ…

Lê Thảo Chi

Tin cùng chuyên mục