Chống ùn tắc giao thông

Cần triển khai đồng bộ và quyết liệt

Vấn nạn ùn tắc giao thông tại TPHCM đã trở thành nỗi bức xúc của hàng triệu người dân đang sinh sống tại TP lớn bậc nhất của cả nước. Tất cả những nội dung này đã được đưa ra mổ xẻ và tìm giải pháp giải quyết tại hội nghị “Một số giải pháp hạn chế ùn tắc giao thông và quy hoạch phát triển giao thông vận tải TPHCM đến năm 2020” vào sáng 8-7 do UBNDTP tổ chức.

  • Thực trạng: báo động

Qua báo cáo của ngành giao thông công chính, có thể nhìn thấy bộ mặt hiện trạng giao thông của TP hết sức lạc hậu, các chính sách chống kẹt xe chưa mang lại hiệu quả. Điều này có thể giải thích vì sao TP ngày càng bị kẹt xe, càng chống ùn tắc thì càng ùn tắc! Tiến sĩ Trần Luân Ngô báo cáo, cho rằng đất dành cho mạng lưới giao thông quá thấp. Tại các quận thuộc Sài Gòn - Chợ Lớn cũ như quận 1, 3, 5 diện tích đất cho giao thông chỉ khoảng 17,4% - 21,4%. Ở các quận mới như 2, 7, 9, 12, Bình Tân và các huyện ngoại thành diện tích đất dành cho giao thông còn thấp hơn nữa, chỉ chiếm khoảng 0,2% - 3,1%.

Tăng cường vận tải công cộng có cứu được ùn tắc giao thông?

Mặt khác, phần lớn các đường đều hẹp, chỉ có khoảng 14% số đường có lòng đường rộng trên 12m để có thể tổ chức vận chuyển hành khách bằng xe buýt được thuận lợi; 51% số đường có lòng đường rộng từ 7m - 12m chỉ cho các xe ô tô con; 35% số đường còn lại có lòng lề đường nhỏ dưới 7m, chỉ đủ cho xe hai bánh lưu thông. Ngoài ra, các đường vành đai đã được hoạch định nhưng hầu hết chưa được xây dựng, các trục hướng tâm đang được cải tạo, nâng cấp nhưng vẫn còn thiếu.

Một phương tiện giao thông khác hết sức quan trọng là vận tải công cộng, như xe buýt nhưng TP triển khai quá chậm. Thống kê năm 2004 cho thấy dân số TP khoảng 6,2 triệu người (chưa kể khách vãng lai), nhưng chủ yếu chỉ dùng phương tiện cá nhân, là xe 2 bánh. Nếu so sánh với năm 1976, lúc đó toàn TP có khoảng 3 triệu người và có 1.000 xe buýt các loại, đã đáp ứng 10% nhu cầu đi lại của người dân.

Đến năm 2004 toàn TP có 2.840 xe buýt các loại, song chỉ đáp ứng 3,2% nhu cầu đi lại của 6,2 triệu người. Điều này đã phản ánh sự suy giảm nghiêm trọng của vận tải hành khách công cộng. Nguyên nhân chủ yếu là do kết cấu hạ tầng không theo kịp với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội và vận tải hành khách công cộng chưa được quan tâm một cách đúng mức. Thạc sĩ Lê Trung Tính cho biết, đường đô thị chủ yếu là đường 2 làn xe. Đối với một số ít đường có từ 4 - 6 làn xe, thì số làn xe cũng giảm ở một số đoạn làm hạn chế sự lưu thông của các xe buýt lớn!

Trước vấn nạn ùn tắc giao thông hết sức gay gắt, ông Phạm Văn Thịnh, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông - Đường bộ, Công an TPHCM đã công bố thông tin khiến cả hội nghị giật mình: Trong 5 tháng đầu năm 2005, Phòng Cảnh sát giao thông - Đường bộ đã tiếp nhận hồ sơ đăng ký mới là 15.425 xe ôtô, 88.784 xe mô tô, gắn máy (trung bình mỗi tháng đăng ký mới khoảng 17.756 xe mô tô, gắn máy và 3.085 xe ô tô). Với số đầu phương tiện mỗi ngày một tăng, cơ sở hạ tầng không thể dung nạp hết số lượng phương tiện tham gia giao thông trên các tuyến đường của TP!

Về đường sắt, hiện nay TP chỉ có một tuyến đường sắt vào đến ga Hòa Hưng nhưng lại giao cắt cùng mức với 14 đường phố khác, gây ùn tắc và mất an toàn giao thông. Về cảng biển, các cảng xây dựng trước đây như Tân Cảng, cảng Sài Gòn, cảng Bến Nghé, cảng Tân Thuận nằm sâu trong nội thành. Do không có đường bộ chuyên dụng nối với cảng mà trực tiếp sử dụng chung mạng đường nội đô nên càng gây ùn tắc giao thông đô thị. Ngoài ra, có một loại gây ùn tắc giao thông mới là… mưa. Chỉ một cơn mưa ngày 20-6 đã gây ra 4 vụ kẹt xe làm ùn tắc giao thông trên diện rộng! Theo tính toán sơ bộ một ngày ùn tắc kẹt xe tự nhiên thì TP phải thiệt hại 5 tỷ đồng!

  • Quy hoạch và năng lực triển khai?

Dự báo nhu cầu vận tải khu vực TP năm 2010 là 26 triệu lượt người/ngày (tăng 137%), năm 2020 là 36 triệu lượt người/ngày. Với mức gia tăng như vậy đến năm 2020 trên một số trục đường chính ở khu vực trung tâm số lượt người đi lại đã đạt 16 - 26 ngàn lượt người/giờ/hướng, vượt xa năng lực vận tải của hệ thống xe buýt (4 - 5 ngàn lượt/giờ/hướng). Do đó để giải quyết số người đi lại với dân số tăng năm 2020 là 10 triệu người thì phương tiện vận chuyển khối lượng lớn là “xương sống”để tạo mạng liên hoàn vận chuyển hành khách “từ cửa đến cửa”.

Nguyên tắc xây dựng quy hoạch phát triển giao thông vận tải TPHCM đến năm 2020 là giao thông đô thị TP theo quan điểm “thành phố mở”, nối liền các đô thị vệ tinh, các khu công nghiệp tập trung, cảng biển, sân bay, gắn kết chặt chẽ với các tỉnh trong khu vực để hỗ trợ nhau phát triển.

Năm 2020 đất xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông bao gồm giao thông động và giao thông tĩnh phải đạt bình quân 15% - 25% đất đô thị; phát triển vận tải hành khách công cộng là nhiệm vụ trọng tâm, đảm bảo tỉ lệ vận tải hành khách công cộng đến năm 2010 - 2015 là 22% - 26% và đến năm 2020 là 47% - 53% nhu cầu đi lại. Đầu tư cho phát triển giao thông vận tải đô thị là một trong những trọng điểm đầu tư về cơ sở hạ tầng quốc gia, tạo khâu đột phá cho phát triển đô thị TPHCM.

Theo tham vấn của các nhà quy hoạch, cơ cấu, phương thức vận tải của TP đến năm 2020 đối với phương tiện vận tải đường bộ sẽ tập trung bằng xe buýt, taxi; tăng mạnh các phương tiện vận tải công cộng, bán công cộng, giảm xe máy, xe đạp song song với quá trình tăng xe con cá nhân. Đi vào từng giải pháp cụ thể, về dự án tàu điện ngầm, theo đề xuất của JICA (Nhật Bản) gồm có 5 tuyến. Bên cạnh đó, sớm xây dựng một số tuyến đường xe điện mặt đất hoặc monorail ở các tuyến có lưu lượng hành khách lớn, có mặt cắt ngang đường hiện tại rộng.

Về mạng lưới giao thông đường bộ được quy hoạch thành 8 tuyến chính. Đó là các đường hướng tâm đối ngoại (các đường cao tốc song hành với quốc lộ hướng tâm có lưu lượng lớn, cải tạo một số tuyến đường tỉnh để hỗ trợ cho các tuyến quốc lộ hướng tâm), các đường vành đai (vành đai 1, vành đai 2, vành đai 3, vành đai 4), các đường phố chính nội đô, hệ thống đường trên cao, các nút giao thông, các cầu lớn - hầm vượt sông, hệ thống bến - bãi đỗ xe. Trong đó, đáng chú ý là 4 hệ thống đường trên cao, nhằm giải quyết giao thông trực tuyến ở các trục có lưu lượng lớn, liên thông với nhau, tổng chiều dài 37,7km.

Riêng về phương tiện vận tải xe buýt, Thạc sĩ Lê Trung Tính cho biết quy hoạch đến năm 2010 sẽ phân cấp các mạng lưới tuyến như trục chính, tuyến nhánh, tuyến thu gom, tuyến chạy nhanh. Mạng lưới tuyến trục chính gồm có 22 tuyến, hoạt động trên các hành lang chính của TP với tổng chiều dài 423,9km. Tuyến chạy nhanh, gồm có 6 tuyến trục chính đi theo các hành lang chính quan trọng đi vào TP; tổng nhu cầu đi lại là 20.112 hành khách/ngày với số lượng xe buýt cần thiết là 6.000 xe. Trước mắt, ngay trong năm 2005 sẽ đưa vào vận hành xe buýt 2 tầng cho tuyến Lê Hồng Phong với làng đại học Thủ Đức…

Theo Sở Giao thông công chính, nhằm thực hiện các hạng mục này, đòi hỏi thành phố phải có quỹ đất lên tới 12.331ha với tổng vốn đầu tư trên 223 ngàn tỷ đồng và lập triển khai các dự án cấp bách theo thứ tự ưu tiên để giải quyết ùn tắc giao thông ngay trong những năm tới… 

LƯƠNG THIỆN - HẠNH NHUNG
 

* Quy hoạch tổng thể các tuyến Metro do JICA nghiên cứu đề xuất:
- Tuyến thứ nhất là Thủ Đức - Bến Thành - An Lạc dài 26,6km.
- Tuyến thứ hai là Thủ Thiêm - Bến Thành - Bà Quẹo - Hóc Môn dài 16,3km.
- Tuyến thứ 3 là ngã tư Bình Phước - Bến xe Miền Đông - quận 8 dài 16,3km.
- Tuyến thứ tư là quận 12 - Gò Vấp - Phú Nhuận - Quận 4 - Nam Sài Gòn dài 18,9km.
- Tuyến thứ 5 là Điện Biên Phủ - Chợ Lớn dài 14,6km.
Trước mắt, đến năm 2015 sẽ được xây dựng trước 4 đoạn tuyến Metro, gồm Bến Thành - Tham Lương, Bến xe Miền Đông - Vòng xoay Phú Lâm, Ngã sáu Gò Vấp - Khánh Hội và Bến Thành - Suối Tiên.

* Hệ thống đường trên cao gồm 4 tuyến liên thông với nhau, tổng chiều dài khoảng 37,7 km:
- Tuyến 1: Từ nút giao thông Cộng Hòa theo đường Cộng Hòa - Bùi Thị Xuân - Kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè và tiếp đất tại đường Nguyễn Hữu Cảnh, dài khoảng 10,8 km, 4 làn xe.
- Tuyến 2: Từ điểm giao thông với tuyến số 1 tại đường Tô Hiến Thành - theo đường Tô Tiến Thành - Lữ Gia - Bình Thới - Lạc Long Quân - đường số 3 - đường vành đai 2, dài khoảng 10km, 4 làn xe.
- Tuyến 3: Từ điểm giao thông với tuyến số 2 tại đường Tô Hiến Thành - theo đường Lê Hồng Phong nối dài - Lê Hồng Phong - Lý Thái Tổ - Nguyễn Văn Cừ - Nguyễn Văn Cừ nối dài – Lê Văn Lương - Nguyễn Văn Linh, dài khoảng 7,3km, 4 làn xe.
- Tuyến 4: Từ nút giao thông Bình Phước - theo Quốc lộ 13 - vượt sông Sài Gòn - đường Vườn Lài - Nguyễn Xí - Đinh Bộ Lĩnh Điện Biên Phủ - nối vào tuyến số 1, dài khoảng 9,6km, 4 làn xe. 

Các tin, bài viết khác