“Chìa khóa” xóa nghèo

“Chìa khóa” xóa nghèo

Bằng phương châm: “Mỗi cán bộ đảng viên giúp một hộ nghèo”, huyện rẻo cao Kỳ Sơn (Nghệ An) đã tìm được “chìa khóa” để mở hướng xóa đói, giảm nghèo cho các xã miền núi đặc biệt khó khăn. Thực tế này không chỉ người dân nhận thấy mà chính chúng tôi cũng không khỏi ngạc nhiên khi gặp những bản làng đang từng bước vượt lên cảnh nghèo đói.

“Đốm lửa” Mường Lống

“Chìa khóa” xóa nghèo ảnh 1

Chị Cừ Y Trữ (vợ anh Lầu Bá Giống) và con gái trong kho thóc đầy của nhà mình.

8 giờ ngày 5-2, ông Lầu Giông Cải, Chủ tịch UBND xã Mường Lống dẫn chúng tôi đến nhà ông Hờ Bá Chù, người Mông ở bản Mường Lống 2 - một điển hình làm giàu của xã Mường Lống.

Căn nhà gỗ 4 gian vắng lặng giữa vườn mận tam hoa xum xuê hoa trắng, chỉ có cái bếp nấu nồi canh nặm nhọc (món canh của người Thái) đang đỏ lửa.

Tìm quanh nhà không thấy ai, ông Cải nói: “Ông Chù năm nay đã 67 tuổi mà làm kinh tế còn “ác chiến” lắm, chắc giờ này đang ở ngoài rẫy”.

Nhìn chiếc xe bò lốp mới làm để dưới hiên nhà, chiếc máy cày lấm lem bùn đất bên chiếc máy xát gạo, tôi đoán đây mới chỉ là một phần cơ ngơi của nhà ông Chù.

Vừa lúc bà Lầu Y Chư (vợ ông Chù) về. Thấy chúng tôi, bà vui vẻ mời ngồi quanh bếp lửa cho đỡ rét. Bà cho hay: “Hai vợ chồng làm 1ha ruộng lúa nước, được lắm. Có năm chỉ làm một vụ nhưng đủ ăn 2 năm. Năm ngoái nhà dư thóc nên cho người khác làm, năm nay lại làm tiếp để bổ sung thóc vào cái kho để ngoài rẫy”.

3 người con bà Chư hiện là cán bộ nhà nước. Ruộng ở nhà do ông Chù cày bừa, bà Chư cấy lúa. Mùa lúa chín thì cả hai ông bà đi gặt. Bà Chư còn nói: “Làm lúa để ăn và để dành, còn muốn tích lũy thì hai vợ chồng làm thêm 2ha mận tam hoa, đào Pháp, hồng Đà Lạt và hồng Nhật”.

Khi có vốn, ông Chù nuôi thêm 8 con bò, 4 con trâu. Đang nói chuyện làm ăn, bà sực nhớ chuyện cũ: “Năm 1985, hàng trăm hécta cây anh túc ở Mường Lống bị xóa bỏ, nếu không biết làm lúa, trồng cây ăn quả kết hợp chăn nuôi thì chết đói ngay vì lúc ấy không còn “nghề cho thu nhập chính” nữa. Nói biết làm ăn là nhờ chồng tôi cũng là đảng viên, lại được đi học cách làm kinh tế do cán bộ huyện về xã tập huấn cho. Bây giờ chồng tôi đã vận động một số gia đình khác giúp bà con lân cận về kinh nghiệm trồng cây, nuôi bò”.

“Gia đình ông Chù chưa phải là nhất ở Mường Lống” - ông Cải khẳng định rồi dẫn chúng tôi đến nhà anh Lầu Bá Giống ở bản Mường Lống 1.

Anh Giống (46 tuổi, nặng 95kg, trông vạm vỡ như một đô vật) dẫn chúng tôi vào ngôi nhà có những tiện nghi đắt tiền. Anh tự tin: “Nhà ta có 3 trang trại trâu bò, mỗi trang trại 10 con. Năm 2000, được cán bộ huyện tư vấn, ta mua 5 con bò đẻ. 1 năm sau có 5 chú bê con ra đời, ta bán để mua 5 con nghé. Bây giờ với 3 trang trại, năm nào ta cũng có trâu bò bán. Bán rồi lại mua, thu về hàng chục triệu đồng mỗi năm. Có con trâu thịt mua 6 triệu đồng về nuôi 1 năm rồi vỗ béo bán được 10 triệu đồng. Có con trâu chận (trâu chọi phục vụ ngày hội năm mới của đồng bào Mông) bán 15-20 triệu đồng. Nguồn thức ăn chính của trâu bò ở 3 trang trại là 6 sào cỏ voi. Bên vườn cỏ là vườn ươm hơn 30 vạn cây giống đào Úc, táo Tàu, lê, mận để bán cho dân bản quanh vùng và bán sang cả Lào”.

Anh Giống nêu kinh nghiệm: “Khi dân bản có nghề kiếm ra tiền thì diện tích rừng bị đốt làm rẫy đã giảm 60%. Còn trước đó, cả xã đốt rừng làm rẫy. Bình quân mỗi nhà phát 1ha rừng. Dạo đó, những dãy rừng bao quanh Mường Lống trọc trơ”.

Có vốn, có nghề, vợ chồng anh Giống giúp ông Vừ Bá Cò làm vườn ươm giống cây và nuôi 3 con bò; giúp anh Lầu Giống Và nuôi 6 con bò; cho anh Lầu Nhia Hùa vay 10 triệu đồng chăn nuôi heo đen.

Anh Và nói: “Ngày xưa cả bản làm thuốc phiện nhưng không thấy ai giàu. Tôi làm như thế này mới 2 năm đã có của ăn, của để”.

Ông Cải cho biết thêm: “Xã có nhiều hộ dân sắp đuổi kịp anh Giống đấy. Nhờ thế, từ năm 2000 đến năm 2008, Mường Lống đã xóa 491 nhà xiêu vẹo. Từ 90% hộ nghèo đói nay chỉ còn 59%”.

Mỗi sở, ban ngành giúp một xã nghèo

Từ “đốm lửa” Mường Lống, năm 2005, Tỉnh ủy Nghệ An nhân rộng mô hình này tại hai huyện Kỳ Sơn, Tương Dương bằng cách Đảng bộ 21 sở, ban ngành trực tiếp giúp 21 xã đặc biệt khó khăn. Đến cuối năm 2008 đã nổi lên mô hình xóa nghèo ở xã Hữu Kiệm.

Trên chuyến xe cùng tôi ngược lên Hữu Kiệm, Bí thư Đoàn của Sở Bảo hiểm Xã hội tỉnh Nghệ An-Đào Quang Quỳnh - tâm sự: “Đầu năm 2006, ban giám đốc sở phân công cán bộ đảng viên thành ba mũi về tiếp xúc, tìm hiểu thực trạng nghèo khó của xã Hữu Kiệm, gồm mũi xóa mù vi tính cho 27 cán bộ xã, bản; mũi khám, cấp thuốc chữa bệnh cho dân; mũi hướng dẫn trồng ngô lai, keo tràm hoa vàng.

Để xóa mù vi tính, sở cấp một máy vi tính cho lớp học. Những năm đó, các đảng viên chi đoàn cùng bác sĩ, kỹ sư vi tính, kỹ sư nông nghiệp liên tục ngồi xe đò ngược hơn 200km lên Hữu Kiệm để triển khai lớp học vi tính; tổ chức khám chữa bệnh cho dân bản và tập huấn trồng ngô lai, keo”.

Hôm ấy, ông Kha Văn Quyên, Chủ tịch xã Hữu Kiệm đón chúng tôi với niềm vui đặc biệt. Bởi “bây giờ thì khỏe rồi, phó chủ tịch hội đồng xã gần 60 tuổi mà dùng vi tính thành thạo lắm. Sau hai đợt khám bệnh cho dân bản, các bác sĩ đã phát hiện được 6 người mắc bệnh lao phổi và viêm gan B, nay chữa trị ổn cả. Hai hộ gia đình ở bản Na Lượng và bản Bà nhận trồng keo giờ mỗi hộ đã có 1,5ha xanh tốt bên bờ sông Nậm Mộ.

Năm nay xã sẽ nhân rộng mô hình này tại hai bản vùng sâu Đỉnh Sơn 1 và Đỉnh Sơn 2. Ngô là thế mạnh nên chúng tôi bỏ lúa cấy cưỡng (lúa cấy sớm năng suất thấp) để trồng ngô. 3 năm nay, Đảng bộ Hữu Kiệm bắt đầu đạt danh hiệu Đảng bộ trong sạch vững mạnh. Từ vị trí thứ 14 trên tổng số 21 xã thị, nay Hữu Kiệm vươn lên đứng nhất nhì huyện”.

Người đề xướng

Năm 1999, thượng tá Hoàng Xuân Lương (Bí thư Đảng ủy, Phó Chỉ huy chính trị của Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng Nghệ An) được điều về công tác tại Tỉnh ủy Nghệ An rồi đảm nhiệm trọng trách Bí thư Huyện ủy huyện Kỳ Sơn (2000).

Hồi ở Biên phòng, nhờ đi không sót một bản nào của Kỳ Sơn nên ông Lương hiểu cặn kẽ nguyên nhân nghèo đói của dân. Ông nghĩ, người đảng viên và tổ chức Đảng không chỉ truyền đạt, tuyên truyền mà phải có phương thức hành động sát dân, gắn với thực tiễn đời sống của dân để chia sẻ khó khăn của dân. Vậy, dân không vượt được nghèo thì người đảng viên phải làm gì?

Ông trăn trở và chọn điểm xuất phát là đưa cán bộ đảng viên xuống tận bản, trực tiếp giúp đỡ dân, xem đó là phương thức cơ bản trong công tác xây dựng Đảng tại cơ sở. Thế nhưng ngay trong phiên họp đầu tiên để bàn nhằm đưa nội dung này vào nghị quyết của đảng bộ huyện, Thường vụ Huyện ủy Kỳ Sơn không nhất trí. Lý do, nhiều người nói - “gia đình tôi còn nghèo thì làm sao giúp dân thoát nghèo”. Ông Lương phải dừng phiên họp.

Sau 1 tháng chuẩn bị, chọn được một số nhân tố đã nhận thức được vấn đề, ông Lương mời toàn bộ Thường vụ Huyện ủy đến thăm một gia đình người Mông ở gần cơ quan. Khi bước qua cầu thang của ngôi nhà sàn xiêu vẹo, không ai dám bước mạnh chân vì sợ cầu thang bị sập. Hôm đó, tận mắt thấy cảnh người chồng tàn phế, người vợ vất vả nuôi chồng và 4 con nhỏ ai cũng cảm động.

Phiên họp tiếp, ông Lương đặt câu hỏi: “Người dân nghèo sống trong hoàn cảnh khó khăn như thế, là cán bộ đảng viên mình có giúp được gia đình họ thoát nghèo không?”. Chính câu hỏi ấy đã giúp phiên họp thành công.

Từ đó (năm 2000), chương trình hành động của cán bộ đảng viên giúp người nghèo trở thành nghị quyết của đảng bộ huyện Kỳ Sơn. Cùng với việc triển khai xóa nghèo ở Mường Lống, ông Lương trực tiếp giúp đỡ một hộ nghèo ở xã Hữu Lập. Đó là gia đình ông Lò Bún My, người Khơ Mú.

Hôm tôi đến, ông My vui nói: “Ông Lương là người có tâm, có tầm thật đấy. Năm 2002, đang là Bí thư Huyện ủy mà cứ 3 ngày ông đến 1 lần dù trời mưa hay nắng để cùng tôi đào ao nuôi cá, trồng 50 gốc chanh và 10.000 cây mét. Bây giờ, mỗi năm ao cá và vườn chanh cho 3 triệu đồng, rừng mét cho 10 triệu đồng. Nhờ thế mới có cái nhà ngói này thay thế cái nhà tranh vách nứa khi mới từ bản Xốp Thạng ra bãi đất hoang này”.

Cuối năm 2003, về làm Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, ông Lương phát động phong trào “Tuyên giáo hành động” theo hướng cán bộ đảng viên giúp người nghèo. Nhưng phải đến năm 2005, khi làm Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy lại đúng dịp cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương của Bác”, chủ trương này của Nghệ An mới thành phong trào như hiện nay.

SÔNG LAM

Tin cùng chuyên mục