Cô giáo già “chở điều không thể mất”

Từ TP Cần Thơ xuôi hướng Nam chừng 55km là đến ngã ba An Trạch, rẽ trái sẽ “lọt” vào một trong những miền quê nổi tiếng nhất Nam bộ: Vũng Thơm - nơi sản xuất bánh pía, lạp xưởng ngon... nhất Việt Nam! Nhưng... đừng vội, hãy đi thêm chút nữa, cặp theo con sông xanh, để gặp một cô giáo già người dân tộc Khmer – người đáng liệt vào hàng “xưa nay hiếm”!
Cô giáo già “chở điều không thể mất”

Từ TP Cần Thơ xuôi hướng Nam chừng 55km là đến ngã ba An Trạch, rẽ trái sẽ “lọt” vào một trong những miền quê nổi tiếng nhất Nam bộ: Vũng Thơm - nơi sản xuất bánh pía, lạp xưởng ngon... nhất Việt Nam! Nhưng... đừng vội, hãy đi thêm chút nữa, cặp theo con sông xanh, để gặp một cô giáo già người dân tộc Khmer – người đáng liệt vào hàng “xưa nay hiếm”!

  • 52 năm đưa qua sông “điều không thể mất”

Đã hơn hai năm, kể từ hội nghị “Tuyên dương những người yêu trẻ...” tại Hà Nội cuối năm 2006, người phụ nữ Khmer trong chiếc áo dài màu xanh dương, được Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa thân ái nắm tay kéo lại chụp hình lưu niệm, vẫn giữ nguyên dáng đi thẳng, khỏe mạnh, dù đã bước vào tuổi 73. Đó là cô Trần Thị Kính. Vâng, dẫu sau này “tuổi hạc trời cho ngoài bách tuế” (Tôn Nữ Hỷ Khương), thì bà vẫn mãi được người dân Kế Sách gọi là “cô” một cách kính trọng, bởi bà là một cô giáo!

Cô giáo già “chở điều không thể mất” ảnh 1

Cô giáo Trần Thị Kính.

“Ngày xưa quê cô, Phú Tâm – tức Vũng Thơm (Mỹ Tú), nghèo xơ xác...”. Năm 1991, đường vào thị trấn Kế Sách vẫn là con đường đất gập ghềnh, bụi mịt mù. Hai bên đường là ruộng lúa, những mái lá xiêu vẹo, trống trơ, bọn trẻ con mặc quần cũ mèm. Vậy mà trong hơn 60 năm qua, có hai vợ chồng nông dân Khmer tuy rất nghèo nhưng cả 9 người con của họ đều được đi học, trong đó 4 người trở thành nhà giáo!

Vũng Thơm hồi đó không có trường trung học. 4 năm, từ lớp đệ thất đến đệ tứ (lớp 6 đến 9), mỗi ngày cô Kính đạp xe trong ruộng ra thị xã học ở trường Providence - người Sóc Trăng gọi là “trường nhà trắng” – chỉ nhận nữ sinh (khác với trường Tabert chỉ nhận nam sinh). Đó là ngôi trường nổi tiếng nên đương thời con gái nhiều gia đình giàu có ở tỉnh khác cũng vào đây học.

Thấy cô là người dân tộc thiểu số, nghèo mà hiếu học, maseur hiệu trưởng Bruno cho giảm 50% học phí năm đầu tiên, miễn 100% học phí cho 3 năm học kế tiếp. Cô tốt nghiệp trung học đệ nhất cấp (1956) và từ năm 1957 đến nay - 52 năm - cô chỉ có một nghề dạy học.

Cô Trần Thị Kính dạy 2 năm ở Trường tiểu học Đại Ngãi (huyện Long Phú), 7 năm ở Trường nữ tiểu học Bãi Xàu (huyện Mỹ Xuyên), năm 1967 về Trường tiểu học Kế Sách, hưởng mức lương “giáo viên tiểu học bậc thượng hạng” (22.179 đồng/tháng).

Sau ngày giải phóng, lương cô giảm xuống còn 10.000 đồng/tháng, quy ra tiền mới là 20 đồng. Cô cười hiền: “Nhưng đó là mức lương cao hàng thứ ba so với giáo viên tiểu học toàn huyện lúc bấy giờ”. Tôi hỏi: “Tại sao một số thầy cô giáo gạt nước mắt đi tìm kế mưu sinh khác thì người có đàn con 9 đứa như cô trụ lại với nghề?”. Cô nhìn tôi, mắt đỏ hoe:

– Mẹ cô dạy: “Làm nghề gì cũng được, miễn sao lương thiện và biết làm. Như cha mẹ biết làm nông nên nuôi được các con”. Cô chỉ “biết làm” dạy học. Cứ tưởng tượng phải xa không khí trường học đã thấy lòng tan nát. Mẹ dạy: “Người dạy học là người lái đò đưa cái chữ qua con sông mê”. 52 năm đưa qua sông “điều không thể mất”, cô tin: chỉ có cái chữ mới cứu được học trò cô và bà con dân tộc Khmer thoát khỏi đói nghèo!

  • Giành chỗ học “với... ma!”

Dạy học liên tục 35 năm, về hưu (1992), cô không buồn vì lương thấp mà chuyện “phải xa không khí trường học... lòng tan nát” là sự thực. Cô lên phòng Giáo dục huyện trình bày nguyện vọng: “Huyện còn nhiều người thuộc diện xoá mù chữ (XMC). Dạy chữ thì giáo viên nào cũng có thể làm được nhưng với học sinh Khmer thì giáo viên phải biết tiếng Khmer. Tôi còn khỏe, 35 năm dạy tiểu học đều ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, bản thân lại là người Khmer, xin cho tôi tham gia công tác XMC”.

Huyện đồng ý ngay, vì giáo viên người dân tộc thiểu số giỏi và say nghề như cô Kính thời nào cũng là “vàng ròng”. Còn lý do khác: cô là một trong hai giáo viên đầu tiên của huyện lặn lội từng thôn xóm, phum sóc để điều tra về trình độ văn hóa, “thu gom” học sinh cho lớp XMC đầu tiên của huyện sau ngày giải phóng, gắn với các lớp XMC và bổ túc văn hóa cho đến ngày có quyết định nghỉ hưu. Hiếm ai chịu khó lặn lội, am hiểu hoàn cảnh mỗi hộ nghèo có người học lớp XMC và bổ túc văn hóa như cô. Chị Bích, cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Kế Sách, nói: “17 năm qua, kể từ khi “hưu mà không hưu”, cô Kính đi dạy học như đi làm công quả!”.

Năm 2002, Bí thư Huyện ủy Kế Sách Huỳnh Văn Sum đến gặp cô Kính. ông hỏi: “Cô ơi, dân khu vực Cầu Trắng là “dân của ai” mà “nhiều không” quá vậy cô?” (nhiều người không giấy tờ tùy thân, không hộ khẩu, không biết từ đâu đến, không biết chữ...). Cô Kính biết đồng chí Bí thư huyện nắm rõ dân tình, ý ông mong cô, với kinh nghiệm và lòng nhiệt tình, sẽ về đó mở một lớp tình thương nên đáp: “Ở ấp Tập Rèn, xã Thới An Hội phải không? À, đó là dân tứ xứ tụ về, vô nghĩa trang cất nhà tạm cạnh mồ mả, họ giành chỗ ở với... ma! Người lớn đã vậy thì con em làm sao được học hành? Hãy cho tôi một phấn, một bảng, mấy bộ bàn ghế!”.

Mọi thứ cô “đòi hỏi” đều được đáp ứng. Hơn thế, Bí thư huyện còn chỉ đạo ngành chức năng kéo đường điện hạ thế vào cho các hộ dân Cầu Trắng theo phương thức trả góp dài hạn. “Phải có ánh sáng trẻ con mới học bài được chớ!”, Bí thư huyện nói vậy.

Lớp học tình thương đầu tiên của Cầu Trắng được khai giảng tại... nhà chờ hỏa táng của nghĩa trang với 6 học sinh, trong ánh mắt e dè của những người dân tứ xứ. Chỉ mấy ngày sau, lớp tăng lên 24 học sinh. Nhiều bậc cha mẹ ngồi ngoài cửa “lớp” chờ con, niềm vui bừng lên nơi những gương mặt khắc khổ.

Tôi đã được gặp nhiều học sinh Khmer học rất giỏi, đã từ “lò” XMC, bổ túc văn hóa mà vào đại học, cao đẳng, trung cấp. Cô Trần Thị Kính có nhiều học trò như vậy, trong đó có em Châu Ngọc Đang, sau khi học tiểu học bổ túc văn hóa với cô đã được cô làm hồ sơ để học lên tiếp và tốt nghiệp cấp 3 với điểm bình quân các môn trên 8. Em Sơn Ngọc Quý cũng có số điểm tương đương, thừa sức vào đại học mà không cần điểm ưu tiên.

Cô nói: “Biết được cái chữ đã là điều kỳ diệu! Còn học lên nữa hay không còn phụ thuộc vào nỗ lực bản thân, vào cơ hội - kể cả vận may - mà không phải ai cũng có được. Nhờ biết chữ, học trò cô mới đọc được giấy khai sinh, CMND của chính mình, mới đi học lấy được bằng lái để chạy xe ôm, mới đọc được tài liệu hướng dẫn chăn nuôi, trồng trọt, mới biết trên đời cái quý nhất chưa hẳn là tiền mà là cái chữ và phải cho con cái đi học để cái chữ có cơ hội làm cầu nối vào tri thức”.

9 người con của cô Kính đều học hành đến nơi đến chốn, có việc làm ổn định. Nói năng khúc chiết, kiến thức sâu rộng, vốn Pháp ngữ học ở Trường Providence tuy đã 52 năm “không có đất dụng võ” vẫn “nói tới đâu nhớ tới đó”... Nhưng, điều đáng quý nhất là cô nhớ sâu sắc từng lời “mẹ dặn”, lúc nào cũng đầy ắp kỷ niệm với các thế hệ học trò.

Rời Kế Sách, chạy dọc theo dòng sông xanh, tôi dừng lại ở quê hương cô - Vũng Thơm - mua phong bánh pía, ký lạp xưởng tặng thầy giáo cũ. Và tôi biết ánh mắt “chợt nắng chợt mưa” đầy cảm xúc, luôn dào dạt một tình yêu nghề tha thiết của nhà giáo 73 tuổi, hơn nửa thế kỷ miệt mài làm “cô lái đò chở điều không thể mất” đưa hàng ngàn học trò qua sông mê sang bờ tri thức - cũng sẽ đưa tôi đi... đến cuối cuộc đời... 

NGUYỄN THỊ KỲ

Tin cùng chuyên mục