Đau đáu một làng nghề

Đã từ lâu, làng nghề mộc Chàng Sơn nổi tiếng khắp cả nước. Đây là nơi ra đời của hàng ngàn mẫu nghệ thuật có giá trị chế tác từ gỗ… Và hiện nay, làng nghề Chàng Sơn cũng không thể tránh khỏi những ảnh hưởng của cơn bão suy thoái kinh tế toàn cầu.

  • Làng nghề - chuyển nghề

Từ đường cao tốc Láng - Hòa Lạc rẽ vào xã Chàng Sơn, huyện Thạch Thất, Hà Nội, mấy tháng nay con đường này thật im ắng, người ta không còn thấy cảnh từng đoàn xe chở nguyên vật liệu đến và đưa những dòng sản phẩm đi tiêu thụ như một năm trước. Đi sâu vào trong làng, chúng tôi phải lắng tai mới nghe thấy đâu đó tiếng đục đẽo…

Trái ngược với sự im ắng của bao miền quê thanh bình khác, cái không khí im ắng này lại mang đến cho người dân một nỗi buồn. Cả làng từ nghệ nhân tài hoa đến thợ thầy đều nhàn rỗi. Làng nghề một thời vàng son khi xưa cũng không thể cưỡng lại được sức ép ghê gớm của cuộc suy thoái kinh tế khi thị trường bị bó hẹp, sức mua giảm sút…

Ông Viện (bên trái) đang giới thiệu về tấm bài vị có giá 300 USD

Người ta biết đến Chàng Sơn là một trong những làng nghề lâu đời nhất nước, nơi đây có nghề truyền thống và nổi tiếng nhất là nghề mộc. Bên cạnh đó nghề in, nghề quạt và nghề song mây tre đan cũng khá phát triển. Mảnh đất này tự hào là cái lò cho ra đời những bộ tràng kỷ, tràng niên; là nơi làm ra chiếc quạt rộng 9m được trưng bày tại Hội chợ hoa Hà Nội năm 2008 và đã được đưa vào Sách kỷ lục Guinness… Thế nhưng, nét vàng son đó cũng chẳng giúp làng Chàng Sơn, người Chàng Sơn tránh được cơn bĩ cực.

Được sự giới thiệu của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, chúng tôi tìm đến nhà ông Nguyễn Thư Viện, một trong hơn 50 nghệ nhân của đất Hà Nội. Cơ ngơi của ông Viện khá lớn, mặt bằng rộng rãi. Sản phẩm của gia đình ông có uy tín, tạo được thương hiệu trên thị trường gỗ thủ công mỹ nghệ từ hàng chục năm nay…

Nhấp chén nước chè đặc khé cổ, ông trầm ngâm: “Hơn một năm nay, thị trường làng nghề không có đầu ra. Những đơn đặt hàng nhỏ lẻ cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay, làm dăm bữa nửa tháng là xong. Mang tiếng là làng nghề mộc nhưng hiện nay gần như cả làng đã chuyển sang làm mây tre, in ấn và làm quạt…".

Ông nhớ lại, cách đây ba bốn năm, thị trường ổn định, nhiều doanh nghiệp Đài Loan, Trung Quốc đặt hàng, cả làng tham gia chế tác đồ mỹ nghệ để phục vụ xuất khẩu. Chỉ tấm bài vị làm từ gỗ trắc được bày trên nóc tủ chè, ông Viện cho biết: Chi phí làm chiếc bài vị này hết 100 USD, nhưng lúc đó được bán với giá 300 USD. Mặt hàng này không bán ở Việt Nam, mà chủ yếu xuất đi Đài Loan, Hồng Công… Chàng Sơn luôn là nơi sản xuất ra những bộ bàn ghế chế tác từ gỗ cực kỳ tinh xảo, được thiết kế theo những công thức ước lệ như ngư, tiều, canh, mục; tứ quý (tùng, cúc, trúc, mai); tứ linh (long, lân, quy, phụng)…

“Thời hoàng kim, những bộ bàn ghế đó bán ra thị trường có giá từ 200 triệu đến 300 triệu đồng, cá biệt có bộ bán tới 500 triệu đồng. Thế nhưng bây giờ, cũng những bộ bàn ghế ấy, nay chỉ cần bán được trăm triệu đồng hay hòa vốn đã là may mắn lắm rồi”, ông Viện than thở.

Do không có đầu ra, để cầm cự với cuộc sinh nhai, từ một làng nghề chuyên chế tác đồ cao cấp, tinh xảo nay những người thợ phải chuyển sang làm những mặt hàng như vỏ điện thoại gỗ, có giá bán ngoài thị trường là 200.000 – 300.000đ; quạt nan, quạt giấy… giá bán chỉ vài ba ngàn đồng. Những chiếc nón ba tầng, nón thúng, nón quai thao vốn là những sản phẩm tự hào của làng, ngày trước được bán với giá là 200.000 – 250.000đ, nay chỉ cần bán được 70.000đ đã là quý…

  • Tiền tỷ “trùm mền”

Theo sự thăng trầm của thị trường, giá trị các mặt hàng cũng dao động khó lường. Giá trị của sản phẩm làng nghề cũng biến đổi vô cùng, lúc được giá thì bán rất cao, ngược lại lúc khó khăn thì giá rẻ như bèo.

Chẳng hạn, ở Bát Tràng, có những chiếc bình, lọ nghệ thuật trang trí họa tiết rất đẹp, công phu, lúc được giá bán được vài trăm ngàn đồng, thế nhưng hiện tại có giá 50.000đ cũng chẳng có người mua. Ở làng đá Ninh Vân, đôi sư tử đá chạm trổ tinh vi, thường được bày trên tủ chè, ngày trước có giá bán 500.000 – 600.000đ, thế nhưng hiện tại bán được bằng 1/4 giá đã là may…

Trong thời buổi khó khăn, nhiều thợ làng nghề đã phải rời làng, lên thành phố đạp xe bán hàng rong. Ông Lê Xuân Quýnh, một người làm nghề lâu năm ở Chàng Sơn, cũng phải thốt lên rằng: “Nghề thợ thật quằn quại, làm thợ cả đời vẫn trắng tay”.

Thị trường tiêu thụ khó khăn, những sản phẩm có tính nghệ thuật cao, đắt giá lại càng khó có đầu ra. Có đến nhà ông Viện mới thấy xót xa cho những giá trị của nghệ thuật của làng nghề đang bị “trùm mền”. Những bộ tràng kỷ, tràng niên, tượng… làm từ gỗ gụ, trắc… mà ông và những người thợ phải bỏ tâm huyết, mồ hôi hằng tháng trời để chế tác… giờ được xếp chỏng chơ trên gác xép, dưới nhà kho và cả trong bếp… Chỉ tính riêng tiền công, tiền gỗ, mỗi bộ như thế đã hơn 100 triệu đồng.

Trong kho nhà ông Viện hiện giờ đang tồn khoảng 6, 7 bộ tràng niên, tràng kỷ làm từ các loại gỗ quý, giá trị ước tính phải lên tới cả tỷ đồng. Ngoài ra, còn hơn chục bộ bàn ghế, tủ, giường… làm từ gỗ mít, xà cừ, xoan… chất đống ngoài sân, trong kho…

Ông bồi hồi nhớ lại: Hai năm trở về trước, hàng làm không đủ bán, ngày cũng như đêm xe cộ, nhân công tấp nập mà vẫn không kịp tiến độ giao hàng. Với mỗi bộ bàn ghế, sau khi trừ hết tiền công, tiền hàng... cũng lãi từ 30 – 40 triệu đồng.

Anh Nguyễn Văn Huấn, con trai ông Viện tâm sự: Giữ hàng tỷ đồng tiền hàng trong tay mà không tiêu thụ được, gia đình chúng tôi như ngồi trên đống lửa, ngày qua ngày vẫn phải chạy vạy tìm kế sinh nhai. Hôm trước bán được cái ghế trị giá 7 triệu đồng cho vị khách ở Hà Đông, số tiền đó đủ để cầm cự qua mấy tháng.

Trong kho nhà ông Viện, các loại gỗ gụ, gỗ mun, gỗ lim… đang chế tác dang dở vứt chỏng chơ, thậm chí có những tấm gỗ quý còn được dùng làm ván kê hòm thóc, đồ đạc... Máy cưa, máy bào thì mạng nhện chăng chằng chịt… Hiện nay, cũng như nhiều gia đình khác, nhà ông tạm chuyển sang nghề làm quạt, mỗi ngày kiếm được 30.000 – 40.000đ cầm cự nuôi bốn miệng ăn.

Ông Nguyễn Hoàng Hải, Bí thư Đảng ủy xã Chàng Sơn, cho biết: Các hộ làm nghề truyền thống trong xã đang thực sự gặp khó khăn. Cái đáng lo nhất là đầu ra, vì nếu không có đầu ra thì có vay được vốn kích cầu cũng chẳng biết để làm gì. Hơn nữa, do không có phương án kinh doanh cụ thể cho nên các hộ không thể vay ngân hàng số tiền lớn. Mà vay nhỏ thì chẳng thể làm được gì vì một lô gỗ cũng đã có giá vài chục triệu đồng. Chính quyền xã chỉ có thể tạo điều kiện cơ sở pháp lý, mặt bằng sản xuất cho các hộ chứ còn thực sự để tháo gỡ khó khăn, xã chưa đủ tầm.

Chưa có giải pháp cụ thể, làng nghề vẫn tiếp tục gặp khó khăn, cả làng đang xoay vần, tìm đủ mọi cách để duy trì. Tiền nợ nguyên liệu ngày một nhiều, tiền vay ngân hàng lãi mẹ đẻ lãi con… nhưng biết đến bao giờ đống hàng chất trong kho mới tiêu thụ được, “nước ngập đến cổ nhưng vẫn không có nước để uống”, ông Viện ví von.

Nguyễn Đức Tiến

Các tin, bài viết khác

Cuộc thi phóng sự - ký sự báo chí Người tốt - Việc tốt

Cứu tinh của bệnh nhân đột quỵ

Bệnh đột quỵ là một trong những nguyên nhân gây tử vong và tàn phế hàng đầu trên thế giới hiện nay; qua thống kê của các cơ quan chuyên môn, cứ mỗi 45 giây trôi qua, trên thế giới có ít nhất một người bị đột quỵ và cứ 3 phút có 1 người tử vong. Đột quỵ có thể xảy ra tại mọi thời điểm, không loại trừ một ai. Tuy nhiên, hơn 2 năm qua, ở vùng sâu vùng xa ĐBSCL, bệnh đột quỵ đang dần được khắc chế nhờ tâm huyết của TS-BS Trần Chí Cường, Giám đốc Bệnh viện Đột quỵ tim mạch Cần Thơ (Bệnh viện Đa khoa Quốc tế S.I.S Cần Thơ - gọi tắt Bệnh viện S.I.S Cần Thơ).

Ảnh

Con nuôi lính biên phòng

Phụ trách địa bàn 4 xã và 1 thị trấn biên giới huyện Đồng Văn, Đồn Biên phòng Phó Bảng (tỉnh Hà Giang) luôn là điểm tựa vững chắc cho bà con đồng bào dân tộc thiểu số nơi địa đầu Tổ quốc. 

Video