Nguyên nhân tiềm tàng gây đau thắt ngực
Đau thắt ngực (ĐTN, còn gọi là đau thắt tim) là một hội chứng lâm sàng biểu hiện bằng những cơn đau hoặc cảm giác thắt chặt ở sau xương ức hay vùng trước tim, đôi khi “xuyên” ra sau lưng và thường lan lên vùng cổ, vai trái và cánh tay.
Nguyên nhân do thiếu máu nuôi cơ tim thoáng qua với bản chất thường gặp nhất là xơ vữa bít hẹp lòng động mạch vành (ĐMV), thường xảy ra khi có những yếu tố thúc đẩy sự phát sinh cơn đau như: gắng sức, stress xúc cảm (tâm lý), nhiễm lạnh đột ngột, tăng tải co bóp cơ tim (như cơn tăng huyết áp)…
Hội chứng này dịu nhanh khi chấm dứt các yếu tố thúc đẩy trên. Có tới 90% trường hợp bị hẹp lòng ĐMV có nguồn gốc từ xơ vữa động mạch (XVĐM), do đó bệnh còn được gọi là “bệnh tim xơ vữa động mạch”.
XVĐM dẫn tới co thắt ĐMV
Sự phát triển của XVĐM thường chậm theo kiểu “tiệm tiến” trong nhiều năm, khởi đầu từ rất trẻ (khoảng 20 tuổi) theo quy luật “ thuận nghịch”- tức là tích tụ rồi tan biến đi, sau đó lại tích tụ.
Tuy nhiên, tình trạng “tích tụ” nhiều hơn “tan”, mỗi năm mỗi dày hơn một ít, dần dần biểu hiện trên lâm sàng. Sự bắt rễ của nó từ hai quá trình: quá trình tổn thương biểu mô nội mạc động mạch và quá trình rối loạn chuyển hóa lipide. Vấn đề co thắt ĐMV rất thường xảy ra tại chỗ động mạch bị xơ vữa hay huyết khối, và nó đi kèm với XVĐM như hình với bóng.
Các yếu tố nguy cơ dẫn đến XVĐM
Có 3 yếu tố nguy cơ: Một, yếu tố nguy cơ thay đổi được (hút thuốc lá, cao huyết áp, béo phì, thiếu vận động, thói quen sử dụng nhiều mỡ, rượu, cà phê…). Hai, yếu tố có tiềm năng thay đổi (tăng mỡ máu, tăng đường huyết và đái tháo đường (không dung nạp glucose), type nhân cách, stress tâm lý…). Ba, yếu tố không thay đổi được (tuổi cao (trên 30 tuổi), thiếu hormone nam của nam giới, không có tác dụng của hormone nữ trước mãn kinh, yếu tố di truyền (gia đình)…).
Điều trị và phòng ngừa
Về điều trị, bác sĩ sẽ đưa ra phác đồ điều trị hệ thống sau phân tích bệnh sử, khám lâm sàng, phối hợp với các phương tiện chẩn đoán như điện tim (trong, ngoài, cơn đau, khi gắng sức). Bệnh nhân (BN) phải thật sự hiểu bệnh của mình và tránh di chuyển khi cơn đau tái phát trước khi được xử trí theo y lệnh.
Các thuốc tân dược điều trị chuyên biệt như các nhóm Nitrat, ức chế canxi, chẹn kênh betha phải được điều trị theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa và theo dõi nghiêm ngặt khả năng đáp ứng thuốc của BN và các tác dụng phụ. BN nên điều trị nội trú tại bệnh viện trong giai đoạn cấp.
Về biện pháp phòng ngừa XVĐM- vấn đề quan trọng làm giảm nguy cơ mắc các bệnh lý mạch vành. Trước tiên phải giảm các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được ở trên: bảo vệ thần kinh tránh stress, rèn luyện tinh thần, tình cảm, thái độ ứng xử với hoàn cảnh bất lợi, giữ sự thăng bằng cần thiết; rèn luyện thân thể, hạn chế dùng mỡ động vật, chống tăng huyết áp, chống béo phì và kiểm soát đường huyết. Đặc biệt gần đây có viên nang mềm Dầu Hải Cẩu ARCTIC OCEAN Seal Oil 500mg có thể xem là một đột phá trong lĩnh vực giảm nguy cơ và biến chứng của XVĐM.
Tập đoàn dược phẩm Tasly đã chiết xuất thành công ARCTIC OCEAN từ loài hải cẩu vùng Newfound Land, Canada. Với công nghệ bào chế hiện đại, sản phẩm này đã mang lại hiệu quả rất cao trong trị liệu và an toàn cho BN.
Với thành phần chính là DHA (7,5%), DPA (5%), EPA (8%), SQUALENE (3%), Vitamin E, Dầu Hải Cẩu ARCTIC OCEAN có tác dụng làm giảm xơ vữa lòng mạch, tăng sức bền thành mạch, giảm tắc mạch, dự phòng các bệnh lý mạch vành, mạch não; tăng cường dưỡng chất cho hoạt động tế bào não. Đồng thời có giá trị hỗ trợ cho BN có nguy cơ cao hoặc đang mắc các bệnh lý về rối loạn mỡ máu, tim mạch, tăng huyết áp, tiểu đường, béo phì như một giải pháp mang tính dự phòng hệ thống.
Đặc biệt, sản phẩm này còn có tác dụng làm thông thoáng lòng động mạch thể hang, giúp tăng tưới máu vùng cơ quan sinh dục ngoài, cải thiện rõ rệt tình trạng rối loạn cương do giảm lượng máu tới các cấu trúc gây cương vốn thường bắt nguồn từ các bệnh về u xơ tiền liệt tuyến, tim mạch, tiểu đường, xơ vữa mạch máu…
BS ỨNG MINH SƠN
Mọi thông tin về sản phẩm Dầu Hải Cẩu Arctic Ocean 500 mg có thể liên hệ: |