Để sử thi Tây Nguyên về với cuộc sống

“Múa hội”, tranh sơn dầu của họa sĩ Y Nhi Ksor.

Như SGGP đã đưa tin, giai đoạn 2 của dự án “Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch kho tàng sử thi Tây Nguyên” do Viện Khoa học xã hội Việt Nam chủ trì đã được bắt đầu với việc chính thức giới thiệu về 3 tác phẩm sử thi Tây Nguyên đầu tiên được in song ngữ.

Từ đây đến hết năm 2007, khi kết thúc dự án, là giai đoạn tập trung vào công tác phiên âm, biên dịch, biên tập để xuất bản các tác phẩm sử thi dưới dạng song ngữ. Phóng viên SGGP đã có cuộc trao đổi với GS-TS Ngô Đức Thịnh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa kiêm Giám đốc điều hành dự án.

 ° Được biết, quá trình điều tra, sưu tầm sử thi vùng Tây Nguyên của dự án gặp rất nhiều khó khăn. Theo ông, đâu là khó khăn lớn nhất của dự án ở thời điểm này?

 ° Ban đầu, chúng tôi đều cho rằng việc đi thực tế, tìm hiểu, gặp gỡ nghệ nhân, ghi âm diễn xướng là rất vất vả... Thế nhưng đến thời điểm này, điều mà chúng tôi gặp khó khăn nhất chính là việc phiên âm, biên dịch, biên tập những tác phẩm đã được thu âm. Cái công việc ngồi trong phòng máy lạnh, đầy đủ tiện nghi này hóa ra lại còn khó khăn, vất vả hơn rất nhiều chuyện đi đến vùng sâu, vùng cao để thu thập tư liệu. Không phải chuyện gì mình đã thu âm, nghe lại cũng hiểu được cả.

Đặc biệt là số nghệ nhân vừa diễn xướng được, vừa thông thạo tiếng phổ thông để chuyển nghĩa các sử thi còn quá ít. Với những sử thi của dân tộc Mnông, chỉ có một mình nghệ nhân Điểu Kâu làm được công việc này, không thể tìm được người thứ hai. Trong số 300 nghệ nhân còn nhớ và diễn xướng được sử thi, hầu hết họ đều nghe và hiểu được những băng thu âm của chúng tôi, nhưng khi bảo chuyển nghĩa sang tiếng phổ thông, họ đều lắc đầu, trả băng lại cho dự án...

 ° Theo đó, chẳng lẽ khi những nghệ nhân này qua đời, sử thi Tây Nguyên cũng sẽ “bị mất” theo?

 ° Đó chính là điều mà chúng tôi đang rất lo. Với dự án này, bản thân tôi xem đây là cơ hội lớn và cuối cùng để chúng ta làm “sống lại” những tác phẩm sử thi Tây Nguyên.

Những nghệ nhân nhớ và kể được sử thi hầu hết đã xấp xỉ tuổi 70, nếu chúng ta không làm gấp, thu thập lại thì khi họ mất đi, thì... Chính vì vậy, chúng tôi đã và đang phối hợp với các địa phương, khuyến khích các nghệ nhân giảng dạy lại sử thi cho lớp trẻ.

Với sự tài trợ của Quỹ Ford, 5 lớp truyền bá, giảng dạy sử thi đã được mở ở 5 tỉnh Tây Nguyên. Để có những cán bộ dân tộc chuyên ngành về văn hóa và bảo tồn sử thi, có 12 em người dân tộc Tây Nguyên đã tốt nghiệp đại học đang được tài trợ để theo học thạc sĩ ở Hà Nội.

Một năm nữa, các em này sẽ tốt nghiệp và theo tôi, đây chính là niềm hy vọng lớn nhất của việc bảo tồn và phát triển sử thi Tây Nguyên.

Theo tôi, đồng bào Tây Nguyên vẫn rất yêu thích sử thi. Điều quan trọng là chúng ta phải biết khơi gợi điều này một cách thiết thực. Bằng mọi cách, chúng ta phải đưa sử thi Tây Nguyên quay về và để chúng thực sự “sống” với cộng đồng đã tạo ra chúng, chứ không phải là một cái gì đó xa xôi, trừu tượng như hiện nay.

Sử thi không chỉ có những giá trị về văn học, đó còn là lịch sử và một bức tranh văn hóa toàn diện của mỗi một dân tộc ở Tây Nguyên. Chúng chứa đựng những giá trị rất to lớn về phong tục, tập quán và những tiến trình lịch sử của mỗi cộng đồng dân tộc. Nếu mất đi sẽ không có gì thay thế được.

Việc sưu tầm, bảo quản, phiên âm, biên dịch, xuất bản các tác phẩm sử thi là một việc làm hết sức quan trọng ở thời điểm này, nhưng để những tác phẩm đó tiếp tục phát huy các giá trị to lớn của nó thì cần phải cho sử thi tiếp tục “sống và phát triển” ở trong cộng đồng các dân tộc ở Tây Nguyên. Đó chính là mục tiêu lớn nhất của dự án.

 ° Là Giám đốc điều hành dự án, xin giáo sư cho biết những công việc trước mắt của dự án trong năm 2005?

 ° Chúng tôi sẽ tập trung vào việc phiên âm, biên dịch các băng đã thu âm để chuyển thành văn bản sau đó biên tập để xuất bản dưới dạng song ngữ. Với những dân tộc đã có chữ viết, chúng tôi sẽ in sử thi dưới dạng chữ dân tộc đó với tiếng Việt phổ thông, còn những dân tộc chưa có chữ viết như Mnông, chúng tôi sẽ dùng ký tự la tinh để phiên âm lời diễn xướng của các nghệ nhân.

Mục tiêu cao nhất là tôn trọng và đảm bảo tính chính xác, trung thực với sự diễn xướng của các nghệ nhân. Trong các tác phẩm song ngữ này, bản dịch tiếng Việt in phần sau, còn ngôn ngữ các dân tộc được in trước. Sau 3 tác phẩm Lên nghịch đá thần của Yang (dân tộc Mnông, dày 840 trang), Cướp chiêng cổ Bon Tiăng (dân tộc Mnông, 1.200 trang) và Udai - Ujàc (dân tộc Raglai, 1.200 trang), trong năm 2005 chúng tôi sẽ cố gắng xuất bản 15 tác phẩm nữa và khi kết thúc dự án vào năm 2007 sẽ xuất bản hoàn chỉnh 75 tác phẩm.

 ° Xin cảm ơn giáo sư về cuộc trao đổi này.

BÌNH CHÂU
 

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Dâng hương tưởng niệm 201 năm ngày mất Đại thi hào Nguyễn Du

Dâng hương tưởng niệm 201 năm ngày mất Đại thi hào Nguyễn Du

Ngày 16-9 (10 tháng 8 Âm lịch), tại Di tích quốc gia đặc biệt Khu lưu niệm Đại thi hào Nguyễn Du (thị trấn Tiên Điền, huyện Nghi Xuân), đoàn cán bộ Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Hà Tĩnh do ông Trần Thế Dũng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, làm trưởng đoàn đã tổ chức lễ dâng hương nhân ngày giỗ lần thứ 201 của Danh nhân văn hóa thế giới - Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du (1820-2021).

Phim

Hành trình trưởng thành của tuổi trẻ

Phim 11 tháng 5 ngày mang đến cho người xem những phút giây giải trí nhẹ nhàng và thư giãn, khi cùng dõi theo hành trình trưởng thành của những người trẻ. 

Âm nhạc

Sân khấu

Sân khấu TPHCM: Chuẩn bị kỹ cho ngày tái ngộ

TPHCM đang chuẩn bị cho việc trở lại của các hoạt động kinh tế - văn hóa - xã hội sau ngày 15-9, cùng với các loại hình văn hóa - nghệ thuật, nhiều sân khấu truyền thống cũng có sự chuẩn bị cho riêng.

Sách và cuộc sống

“Dệt áo” cho những cuốn sách

Một trong những yếu tố quyết định đến thói quen mua sách của độc giả ngày nay, ngoài nội dung, không thể không nhắc tới bìa sách, được ví như một “chiếc áo” của tác phẩm. 

Sáng tác

Biển xanh, mây trắng

Màu áo xanh như lúa
Màu áo trắng như mây
Lúa mênh mang nỗi nhớ
Mây lững lờ đảo xa

Mỹ thuật

Họa sĩ Bùi Quang Lâm: Viết và vẽ để trả nợ ân tình

Hồi dịch Covid-19 chưa bùng phát, họa sĩ Bùi Quang Lâm cũng thường lui đến trụ sở Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật TPHCM (số 81 Trần Quốc Thảo) để “quần anh hội” cùng chiến hữu. Khi cuốn truyện ký Đất K xuất bản, nhiều chiến hữu của ông té ngửa, bởi ngoài tài vẽ tranh, thì ngón nghề viết văn của Bùi Quang Lâm cũng không tệ.