Châu Á

Định dạng sự phát triển toàn cầu

Sự phát triển châu Á không còn là hiện tượng. Nó là một thực tế. Tốc độ hòa nhập kinh tế của châu Á khiến châu lục này trở thành một phần không thể tách khỏi của guồng máy kinh tế toàn cầu.

  • Miễn nhiễm trước “cơn hắt hơi” của Mỹ

Doanh nhân Trung Quốc tại Ý.

Nhìn toàn cầu, Mỹ cùng Trung Quốc (TQ) và Ấn Độ sẽ chiếm hơn 50% phát triển kinh tế toàn cầu từ 2005-2020, với riêng châu Á chiếm đến 43% nền kinh tế thế giới, so với mức hiện tại 35% - theo nghiên cứu Foresight 2020 do Economist Intelligence Unit (EIU), thực hiện dưới sự tài trợ Cisco Systems.

15 năm tới nhân loại sẽ chứng kiến sự thăng hoa vượt bậc của châu Á, đặc biệt là TQ và Ấn Độ – xét về tỷ lệ tăng trưởng GDP, thu nhập của người dân và sức mua thị trường.

Nghiên cứu Foresight 2020 cho biết TQ sẽ bắt kịp Mỹ như thị trường tiêu dùng lớn nhất thế giới tính ở tỷ lệ sức mua. Để hiểu rõ vai trò châu Á trong tương lai, thử xem yếu tố thị trường. Như The Economist nhận xét, lâu nay người ta quá nhấn mạnh “yếu tố lôi kéo” của thị trường Mỹ đối với sự vận hành kinh tế toàn cầu.

Trong thực tế, 5 năm qua Mỹ chỉ đóng góp 13% cho GDP thế giới trong khi lực đẩy chính để thúc cỗ máy kinh tế thế giới chạy ổn định lại là châu Á, nơi chiếm hơn 1/2 tỷ lệ tăng trưởng toàn cầu từ năm 2001 đến nay. Xét ở giá trị đồng đôla Mỹ, đóng góp của châu Á cho GDP thế giới cũng hơn Mỹ, với 21% so với 19%.

Một số ý kiến cho rằng, sự phát triển của châu Á dựa chủ yếu vào xuất khẩu sang Mỹ trong khi thị trường khu vực trong thực tế đang khốn đốn. Do đó, nếu kinh tế Mỹ “mệnh hệ” gì, châu Á hẳn nhiên vạ lây. Tuy nhiên, theo The Economist, nhu cầu thị trường địa phương thật ra đang là yếu tố giúp châu Á phát triển.

Đúng là xuất khẩu chiếm 40% GDP của TQ nhưng chỉ 1/4 giá trị xuất khẩu nước này đóng góp cho kinh tế quốc gia, bởi thu nhập từ xuất khẩu đã phải dành lại cho ngân sách nhập khẩu và động lực tăng trưởng GDP TQ thật ra là thị trường nội địa. Tiêu dùng nội địa TQ tăng trung bình 10%/năm trong một thập niên qua – nhanh nhất thế giới và nhanh hơn nhiều so với Mỹ.

Một trong những lý do khiến có thể tin rằng kinh tế châu Á phát triển độc lập khỏi ảnh hưởng của thị trường Mỹ là mức độ thâm hụt cũng như thặng dư ngân sách không cao, giúp châu Á dễ xoay trở trong điều chỉnh chính sách để duy trì mức cầu thị trường nội địa nhằm bù đắp sự tụt giảm trong xuất khẩu.

Trong thực tế, tổng thị phần xuất khẩu Mỹ tại châu Á đã giảm từ 25% xuống còn 20% trong 5 năm qua bởi yếu tố lan truyền TQ. Theo hãng kiểm toán Goldman Sachs, cách đây 5 năm, nhập khẩu cho thị trường nội địa TQ chỉ bằng 1/2 so với sản phẩm lắp ráp gia công và tái xuất khẩu.

Bây giờ, tỷ lệ giữa hai yếu tố trên bằng nhau, có nghĩa thị trường nội địa TQ bắt đầu ngốn hàng nhập khẩu nhiều hơn. Tỷ lệ xuất khẩu của TQ sang Mỹ đã giảm từ 35% năm 1999 xuống còn 25% vào giữa năm 2006 trong khi xuất khẩu của TQ sang châu Âu bắt đầu bằng mức sang Mỹ. Kinh tế nội địa TQ cũng phát triển ổn định.

Theo hai chuyên gia kinh tế Bert Hofman và Louis Kuijs thuộc Văn phòng Ngân hàng Thế giới tại Bắc Kinh, lợi nhuận từ ngành công nghiệp TQ tăng trung bình 36%/năm kể từ 1999 và lợi nhuận từ các công ty tư nhân tăng từ 7% lên 16%...

  • Trung Quốc và Ấn Độ - Nhân tố đầu tàu

Đúng là sự kết nối kinh tế-tài chính như hiện tại đang tạo ra mặt trái nhưng song song cũng xuất hiện mặt phải và điều này cho thấy tính độc lập tăng dần của kinh tế châu Á. Trong bài viết trên Newsweek (16-10-2006), tác giả William Underhill cho biết doanh nhân TQ hiện có mặt khắp nơi. Hơn 2.000 doanh nghiệp TQ đã và đang tiếp tục giúp hồi sinh công nghiệp dệt tại Prato (Ý).

Cách đó khoảng 1.000km, một doanh nhân TQ cũng đang xây trung tâm du lịch trị giá 10 triệu euro tại thị trấn Alvkarleby-Thụy Điển, nơi không chỉ là trung tâm du lịch mà còn là trạm tiền phương cho giới doanh nhân TQ chuẩn bị đổ bộ sâu hơn vào châu Âu. Năm 2005, Liên minh châu Âu (EU) đã thay Mỹ trở thành bạn hàng lớn nhất của TQ.

Theo hãng tư vấn Ernst & Young, tổng dự án TQ tại EU đã tăng gấp 5 kể từ năm 2000. Sức mạnh TQ còn thể hiện ở chỗ doanh nhân châu Âu bắt đầu đến Hoa lục tìm kiếm nhà đầu tư. Trong chuyến kinh lý Bắc Kinh, Thủ tướng Ý Romano Prodi (cùng phái đoàn 700 người đại diện doanh nghiệp) đã quảng cáo Ý là “cánh cổng dẫn đến phương Đông”. Tại Áo, Chính phủ nước này hiện có dự án hỗ trợ 100 triệu euro để xây một công viên kỹ thuật TQ tại ngoại ô Vienna…

Nhân tố điển hình thứ hai trong sức mạnh độc lập của kinh tế châu Á là Ấn Độ. Tháng 8-2006, tập đoàn khổng lồ Tata tuyên bố chi 677 triệu USD mua 30% cổ phần trong Energy Brands. Tiếp đó, hạ tuần tháng 10-2006, Tata loan bố chi 9,3 tỷ USD mua công ty thép Hà Lan Corus (thương vụ mua công ty nước ngoài lớn nhất lịch sử Ấn Độ); trong khi Videocon mua Daewoo Electronics với 700 triệu USD.

Không chỉ ở châu Âu, Ấn Độ cũng đủ sức “mua” cả ở Mỹ. Sau khi mua khách sạn Pierre tại New York, Tata chuẩn bị mua Ritz-Carlton tại Boston. Đó là chưa kể nhiều thương vụ nhỏ, chẳng hạn công ty thuốc Ranbaxy mua Terapia (Romania) với giá 324 triệu USD hoặc United Breweries mua hãng rượu Whyte & Mackay (Scotland) với 750 triệu USD…

Tính đến năm 2006, các công ty Ấn đã đầu tư 7,5 tỷ USD ở hải ngoại, so với 1,5 tỷ USD năm 2004. Cổ phiếu các công ty Ấn Độ liên tục cao hơn 3-4 lần so với cổ phiếu công ty phương Tây ở cùng mức doanh thu. Cần nói thêm, kinh tế Ấn Độ tăng trưởng trung bình 6% từ 1980 đến 2002 và 7,5% từ 2002 đến 2006.

Hai thập niên qua, số hộ dân trung lưu tăng gấp bốn (lên gần 250 triệu người). Và cuối cùng, xin nhấn mạnh: Ấn Độ hiện là nền kinh tế lớn thứ tư toàn cầu!  

* Theo nghiên cứu Foresight 2020 do Economist Intelligence Unit thực hiện, GDP toàn cầu sẽ tăng trung bình 3,5%/năm, giúp kinh tế thế giới lớn gấp 2/3 vào năm 2020 so với năm 2005 và TQ sẽ đóng góp 27% trong tỷ lệ phát triển trên. TQ và Ấn Độ sẽ bổ sung tổng cộng 207 triệu nhân công vào trước năm 2020 và riêng TQ sẽ có ít nhất 80 triệu hộ dân có thu nhập hơn 7.500 USD/năm vào trước năm 2020...

* Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cho biết, châu Á nói chung (kể cả nền kinh tế hùng mạnh Nhật Bản cũng như các nền kinh tế đang trỗi dậy như TQ hoặc Việt Nam) có tỷ lệ tăng trưởng tiêu dùng trung bình 6,3%/năm trong năm 2005 và 2006. Điều này có nghĩa người tiêu dùng châu Á đủ sức duy trì tốc độ phát triển GDP, thậm chí khi kinh tế Mỹ tụt dốc.  

Lê Thảo Chi

Các tin, bài viết khác